vanban.org

Bản án 204/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Trúc M về yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải trả số tiền lãi hụi 10.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Trúc M về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P trả số tiền nợ hụi 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu) đồng. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P có nghĩa vụ trả cho chị Dương Thị Trúc M số tiền nợ hụi 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu) đồng.…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa Dương Thị Trúc M và Trần Văn P, Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Trúc M về yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải trả số tiền lãi hụi 10.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/DS-ST
Ngày: 17-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Văn Tư;

+ Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong các ngày 10 và 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Trúc M, sinh năm 1975; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Anh D, sinh năm 1959; thường trú tại: Số H Đường số A, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 25-3-2024. (Có mặt)

- Bị đơn:

1. Ông Trần Văn P, sinh năm 1971; (Vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; (Vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn, chị Dương Thị Trúc M và người đại diện theo ủy quyền cùng trình bày: Trước đây, chị M có tham gia chơi các dây hụi do ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị T làm đầu thảo, cụ thể như sau:

- Dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 15-01-2022 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 30 phần, chị M tham gia 01 phần ghi tên là Chị 14, mức đóng hụi sống cao nhất là 800.000 đồng (Dằn nền 200.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 500.000 đồng/phần hụi, chị đóng được 14 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi, số tiền mà chị đóng thực tế là 11.200.000 đồng. Dây hụi này hiện đã mãn ngày 15-7-2024 âm lịch nhưng ông P, bà T không trả tiền hụi chết cho chị. Do đó, nay chị M yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền mà chị được lĩnh hụi 14 kỳ, tương đương số tiền 14.000.000 đồng.

- Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 05-9-2022 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 23 phần, chị M tham gia 01 phần ghi tên là Chị 14, mức đóng hụi sống cao nhất là 4.100.000 đồng (Dằn nền 900.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 2.500.000 đồng/phần hụi, chị đóng được 12 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi, số tiền mà chị đóng thực tế là 49.200.000 đồng. Dây hụi này hiện đã mãn ngày 25-12-2023 âm lịch nhưng ông P, bà T không trả tiền hụi chết cho chị. Do đó, nay chị M yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền mà chị được lĩnh hụi 12 kỳ, tương đương số tiền 60.000.000 đồng.

- Dây hụi 500.000 đồng, khui ngày 25-4-2022 âm lịch, nửa tháng khui 01 lần, gồm có 33 phần, chị M tham gia 01 phần ghi tên là Thím 14, mức đóng hụi sống cao nhất là 410.000 đồng (Dằn nền 90.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 250.000 đồng/phần hụi, chị đóng được 22 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi, số tiền mà chị đóng thực tế là 9.020.000 đồng. Dây hụi này hiện đã mãn ngày 25-7-2023 âm lịch nhưng ông P, bà T không trả tiền hụi chết cho chị. Do đó, nay chị M yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền mà chị được lĩnh hụi 22 kỳ, tương đương số tiền 11.000.000 đồng.

- Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 05-9-2022 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 22 phần, chị M tham gia 01 phần ghi tên là Chị 14, mức đóng hụi sống cao nhất là 4.100.000 đồng (Dằn nền 900.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 2.500.000 đồng/phần hụi, chị đóng được 06 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi, số tiền mà chị đóng thực tế là 24.600.000 đồng. Dây hụi này hiện đã mãn ngày 05-8-2024 âm lịch nhưng ông P, bà T không trả tiền hụi chết cho chị. Do đó, nay chị M yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền mà chị được lĩnh hụi 06 kỳ, tương đương số tiền 30.000.000 đồng.

Như vậy, ông P, bà T nợ chị M số tiền hụi tổng cộng là 115.000.000 đồng nên yêu cầu bị đơn phải trả.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P: Đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bản sao tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện đã trả tiền hụi cho chị M, vắng mặt không có lý do tại các phiên họp và phiên tòa.

Tại phiên tòa, chị Dương Thị Trúc M và người đại diện theo ủy quyền của chị M là ông Trần Anh D yêu cầu ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho chị M số tiền nợ hụi là 115.000.000 đồng, rút lại yêu cầu tính lãi 10.350.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Dương Thị Trúc M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải trả số tiền nợ hụi, nên căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. Bị đơn, bà T, ông P cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nên thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn, bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T, ông P.

Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy có nhận được văn bản bản ghi tên Nguyễn Thị T đề ngày 23-5-2024, nội dung văn bản thừa nhận chị M có tham gia chơi hụi do bà T làm đầu thảo nhưng cho rằng sau khi bể hụi đã tổ chức bốc thăm, bà T có giao tiền cho các hụi viên chỉ còn thiếu lại một ít. Tuy nhiên, văn bản này không có chữ ký của bà T nên không thể xác định được đây có phải là ý chí của bà T hay không. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bản sao tài liệu chứng cứ của các nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện; giấy triệu tập dự phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà T, ông P vắng mặt không có lý do và không cung cấp hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ để chứng cứ chứng minh ông, bà đã giao tiền hụi cho chị M là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị M, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, chị M rút lại yêu cầu tính lãi hụi với số tiền 10.350.000 đồng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận, đình chỉ xét xử phần này. Chị M có tên thường gọi là “Chị 14”, “Thím 14” ở địa phương, theo các danh sách hụi do chị M cung cấp thể hiện chị M có tham gia các dây hụi do vợ chồng bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P làm đầu thảo. Cụ thể, dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 15-01-2022 âm lịch, chị M tham gia 01 phần và đóng được 14 nên chị M yêu cầu bị đơn trả số tiền 14.000.000 đồng; dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 05-9-2022 âm lịch (Dây 23 phần), chị đóng được 12 kỳ nên yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền 60.000.000 đồng; dây hụi 500.000 đồng, khui ngày 25-4-2022 âm lịch, chị M tham gia 01 phần, đóng được 22 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi nên chị yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền 11.000.000 đồng; dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 05-9-2022 âm lịch (Dây 22 phần), chị đóng được 06 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi nên yêu cầu ông P, bà T phải trả cho chị số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền hụi bà T, ông P còn nợ chị là 115.000.000 đồng. Sự việc chị M tham gia chơi hụi của bà T, ông P được một số hụi viên chơi cùng xác nhận là có, hiện bà T, ông P không chỉ nợ tiền hụi của chị M mà còn nợ tiền hụi của nhiều người khác. Như đã nhận định ở phần trên, mặc dù bà T, ông P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu của người khởi kiện nhưng vắng mặt không có lý do tại các phiên họp và phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả tiền hụi cho chị M là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc này. Các dây hụi mà nay chị M khởi kiện yêu cầu bà T, ông P trả tiền đều là hụi có lãi, các bên đã có thỏa thuận lãi suất, chị M thực hiện đúng nghĩa vụ của hụi viên nhưng đến khi mãn hụi bà T, ông P không giao tiền hụi là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của chị M là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Trúc M về yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải trả số tiền lãi hụi 10.350.000 (Mười triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Trúc M về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P trả số tiền nợ hụi 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu) đồng. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P có nghĩa vụ trả cho chị Dương Thị Trúc M số tiền nợ hụi 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí:

- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải chịu 5.750.000 (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.

- Chị Dương Thị Trúc M được nhận lại 3.133.000 (Ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002580 ngày 16-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự hoặc người đại diện theo ủy quyền của đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ