- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Quyên ly hôn với Huỳnh Tấn Phụng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 204/2023/HNGĐ-ST Ngày 22-6-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Bích;
2. Ông Lê Tiến Dũng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 386/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 886/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 1062/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1996. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn AL, xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn P, sinh năm: 1982. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn TB, xã MCT, huyện PM, tỉnh BĐ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Q trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Q và anh Huỳnh Tấn P kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã MCT, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 22/6/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống. Chị Q và anh P không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cả hai đều không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng. Chị Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Huỳnh Tấn P.
+ Về con chung: Chị Q và anh P có 01 người con chung là Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017. Hiện nay, cháu B đang sống chung với anh P. Ly hôn giao cháu B cho anh P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý; chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2023, bị đơn anh Huỳnh Tấn P trình bày:
+ Về hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng, anh P thống nhất như lời trình bày của chị Q. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn; chị Q đi làm ăn xa nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt; mâu thuẫn của vợ chồng kéo dài nhưng không có biện pháp khắc phục. Anh P nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên không đồng ý ly hôn với chị Q, nhưng nếu chị Q kiên quyết ly hôn thì anh P đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: Anh P và chị Q có 01 người con chung là Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017. Hiện nay, cháu B đang sống với anh P. Ly hôn anh P yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý cháu B và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
- Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Q vắng mặt và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Q giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên; bị đơn anh P vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Nguyễn Ngọc Q được ly hôn với anh Huỳnh Tấn P.
+ Về con chung: Giao cho anh Huỳnh Tấn P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý người con chung là cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh P về việc không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Chị Q và anh P đều không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Q vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Tấn P được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Q và bị đơn anh Huỳnh Tấn P.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại huyện Phù Mỹ , tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Q và anh Huỳnh Tấn P kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MCT, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 22 tháng 6 năm 2017 là phù hợp với tài liệu, chứng cứ do chị Q cung cấp là Giấy chứng nhận kết hôn số: 28/2017; ngày đăng ký 22/6/2017 của UBND xã MCT, huyện PM, tỉnh BĐ cấp cho Nguyễn Ngọc Q và Huỳnh Tấn P (bản chính). Nên hôn nhân giữa chị Q và anh P là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Chị Q cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống; anh P cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị Q đi làm ăn xa nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt.
Mặt dù chị Q và anh P trình bày không thống nhất về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng nhưng chị Q và anh P đều trình bày thống nhất: sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7/2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2022 cho đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng kéo dài nhưng không có biện pháp hàn gắn. Chị Q cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn với anh P; anh P cho rằng vẫn còn tình cảm với chị Q nên không đồng ý ly hôn nhưng nếu chị Q kiên quyết ly hôn thì anh P đồng ý.
Xét hôn nhân giữa chị Q và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh P, chị Q tại địa phương nơi anh P cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Nguyễn Ngọc Q được ly hôn với anh Huỳnh Tấn P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 01 người con chung là Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017. Lời trình bày của chị Q và anh P phù hợp tài liệu, chứng cứ do chị Q giao nộp là Trích lục khai sinh số: 98/TLKS-BS ngày 26/10/2017 của Uỷ ban nhân dân xã MCT, huyện PM, tỉnh BĐ cấp cho Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017 (bản sao). Hiện nay, cháu B đang sống với anh P.
Chị Q và anh P trình bày thống nhất là giao cháu B cho anh P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét việc thoả thuận về người trực tiếp nuôi con chung của chị Q và anh P là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị Q, anh P có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Ngọc Q và anh Huỳnh Tấn P đều không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : AA-2021/0008903 ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ , tỉnh Bình Định. Chị Q đã nộp xong.
Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Q.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Q được ly hôn với anh Huỳnh Tấn P.
2. Về con chung: Giao người con chung là cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 21/9/2017 cho anh Huỳnh Tấn P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Ngọc Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị Q, anh P có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Nguyễn Ngọc Q và anh Huỳnh Tấn P có tranh chấp, yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghin) đồng án phi sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án
̀
́ phí sơ thẩm chị Q đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : AA-2021/0008903 ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị Q đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc Q, anh Huỳnh Tấn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND H.Phù Mỹ; - Các đương sự; - THADS H.Phù Mỹ; - UBND xã MCT; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |