vanban.org

Bản án 204/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028538 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-5-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hơn

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm xxxx (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: xxxx (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Chị L và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thuận Bình, huyện Gò Công Đông. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do Chị L và anh Đ bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cải vã, anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Từ đó Chị L và anh Đ đã không còn liên lạc với nhau nên không có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Nay Chị L nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án và anh Đ cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh Đ đối với yêu cầu ly hôn của Chị L nên không có ý kiến trình bày.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ L, cho Chị L được ly hôn với anh Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm xxxx, ngụ tại ấp b, xã T, huyện G nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Đ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn Đ có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của Chị L, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do Chị L và anh Đ bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cải vã, anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Từ đó Chị L và anh Đ đã không còn liên lạc với nhau nên không có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Nay Chị L nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án mà để mặc Chị L với yêu cầu ly hôn, anh Đ không còn tha thiết gì với cuộc hôn nhân của anh Đ với Chị L. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy anh Đ mặc nhiên từ bỏ cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án như thế nào, cho thấy anh Đ không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này nữa, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị L với anh Đ là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L có yêu cầu ly hôn nên Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028538 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Nguyễn Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ Chị L và anh Đ được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ