- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Văn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI —————————— Bản án số: 204/2022/HS-ST Ngày 24 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và bà Đào Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 197/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn D, sinh năm 1993 tại Nam Định. Giới tính: Nam. HKTT và hiện cư trú tại: Xóm 8, xã TH, huyện TN, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Con ông Vũ Văn D1 và bà Phạm Thị O. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không có.
Tiền án: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 20 tháng tù giam theo Bản án số 04/2020/HS-ST ngày 08/01/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2020.
Bị giam giữ từ ngày 26/7/2022 đến ngày 27/10/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1961. Địa chỉ cư trú: Đường 7, số 20, ấp QP, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, người có QLNV liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn D có 01 tiền án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (chưa được xóa án tích). Trong khoảng thời gian từ ngày 15/4/2022 đến ngày 09/6/2022 tại khu vực ấp QP, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai, D đã cho bà Nguyễn Thị Ánh N vay tiền 03 lần với lãi suất cao, cụ thể như sau:
Lần 1: Vào ngày 15/4/2022, D cho bà N vay số tiền 5.000.000 đồng với hình thức trả gốc, lãi góp ngày, tuy hai bên không làm hợp đồng vay mượn nhưng thỏa thuận bằng lời nói với nhau mỗi ngày góp 250.000 đồng, góp trong vòng 24 ngày. Bà N đã trả cho D tổng số tiền là 6.000.000 đồng; bao gồm 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.000.000 đồng tiền lãi. Lần vay tiền này Vũ Văn D cho bà N vay với lãi suất 304%/năm (cao gấp 15,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định) và đã thu lợi bất chính số tiền 934.247 đồng.
Lần 2: Vào ngày 09/5/2022, D tiếp tục cho bà N vay số tiền 5.000.000 đồng với hình thức và thỏa thuận như trên. Lần vay tiền lần 2 này, D cho bà N vay với lãi suất 304%/năm (cao gấp 15,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định) và đã thu lợi bất chính số tiền 934.247 đồng.
Lần 3: Vào ngày 09/6/2022, D tiếp tục cho bà N vay số tiền 5.000.000 đồng với hình thức như trên nhưng lần này bà N mới trả cho D tiền gốc và lãi của 12 ngày là 3.000.000 đồng, còn nợ lại 3.000.000 đồng, sau đó không có khả năng chi trả và hứa hẹn nhiều lần. Ngày 24/7/2022, D cùng Nguyễn Ngọc C đến nhà gặp bà N để đòi nợ thì bị công an xã QT mời về trụ sở làm việc. Lần vay tiền này, D cho vay với lãi suất 304%/năm (cao gấp 15,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định), thu lợi bất chính số tiền 467.123 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 206/CT-VKS-TB ngày 27 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
+ Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Vũ Văn D từ 50.000.000 đồng ( Năm mươi triệu đồng) đến 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
+ Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp số tiền 13.164.000 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Ánh N phải nộp số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) là tiền gốc bà N còn nợ của D để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Vũ Văn D phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh N số tiền 2.335.616 đồng (Hai triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười sáu đồng).
+ Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quá trình điều tra xác minh xác định Vũ Văn Cường đã 02 (hai) lần, mỗi lần cho bà Nguyễn Thị Ánh N vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, gấp 15,2 lần lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định, tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.051.027 đồng. Vũ Văn Cường chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của Cường chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự nên Công an huyện Trảng Bom đề nghị UBND huyện Trảng Bom ra quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Văn Cường.
Đối với Nguyễn Ngọc C không cho bà N vay tiền, không tham gia giúp sức cho Vũ Văn D thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.
Trong đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 10/11/2022 của bị cáo Vũ Văn D thể hiện: Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự, cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội không có oan sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo Vũ Văn D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì bị bệnh tật, đi lại khó khăn, căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo Vũ Văn D là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn D vắng mặt nhưng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, ý kiến trình bày của bị cáo tại “đơn đề nghị xét xử vắng mặt” đề ngày 10/11/2022 phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 15/4/2022 đến ngày 09/6/2022 tại khu vực ấp QP, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai, Vũ Văn D có 01 tiền án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” chưa được xóa án tích, đã thực hiện hành vi cho bà Nguyễn Thị Ánh N vay số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), đã nhận của bà N số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), trong đó: tiền gốc là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), tiền lãi theo quy định của pháp luật được phép giao dịch là 664.383 đồng (Sáu trăm, sáu mươi bốn ngàn, ba trăm tám mươi ba đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.335.617 đồng (Hai triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười bảy đồng), với mức lãi suất 304%/năm, gấp 15,2 lần lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự 2015 quy định.
Hành vi của bị cáo Vũ Văn D đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận xã hội đối với vấn nạn “tín dụng đen” nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đã tích cực nộp lại số tiền thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp số tiền 13.164.000 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Ánh N phải nộp số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) là tiền gốc bà N còn nợ của D để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Vũ Văn D phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh N số tiền 2.335.616 đồng (Hai triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười sáu đồng).
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn D số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
+ Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp số tiền 13.164.000 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Ánh N phải nộp số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) là tiền gốc bà N còn nợ của D để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ Buộc bị cáo Vũ Văn D phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh N số tiền 2.335.616 đồng (Hai triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười sáu đồng).
Tạm giữ số tiền 2.335.616 đồng (Hai triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười sáu đồng) do bị cáo Vũ Văn D nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu tiền số 0005071 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom để đảm bảo thi hành án.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người TGTT khác; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - NTG - CA huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS H. Trảng Bom; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |