- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Trị "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 204/2022/HS-PT Ngày: 06-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thị Phượng
Ông Dương Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 146/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 21-9-1990 tại Long An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 569/8, ấp TT, xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Phạm Thị Â, sinh năm 1950; vợ Thạch Thị Na Q (đã ly hôn); bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: không.Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:
- Bị hại: Ông Phan Thanh T1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
2. Cuôn B1, sinh năm 2006. Nơi cư trú: Ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của Cuôn B1:
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968;
- Bà Cuôn Xà R, sinh năm 1989;
Cùng cư trú: Ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
3. Bà Trương Thị C, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Người làm chứng: Nhum Th, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp B1 T 1, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 04-6-2021, tại nhà của ông Phan Thanh T1, thuộc ấp B1 Thới 2, xã TM, huyện Châu Thành, tỉnh Long An có tổ chức tiệc rượu gồm có: ông Phan Thanh T1, ông Võ Thành D, ông Nguyễn Thái S, ông Hồ Tấn K. Lúc sau, có Cuôn B1 và Nhum Thi, đến cùng tham gia uống rượu.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, tại nhà ông Nguyễn Văn T2, cùng ấp B1 Thới 2, cũng có tổ chức tiệc rượu gồm có: ông T2, Cuôn B1, Nhum Th và bị cáo Nguyễn Văn T. Nhậu một lúc thì Cuôn B1 và Nhum Th đi đến nhà ông Phan Thanh T1 nhậu tiếp, chỉ còn lại ông T2 và bị cáo T nhậu. Một lúc sau, ông T2 bảo bị cáo T chở ông đến nhà ông Phan Thanh T1 để bảo Cuôn B1 và Nhum Th về.
Trước khi đi, bị cáo Nguyễn Văn T xuống nhà sau của ông T2 lấy 01 con dao bấm bỏ vào túi quần, rồi sử dụng xe mô tô biển số 62B1-088.14 chở ông T2 đến nhà ông T1. Ông T2 đứng ngoài bờ đan trước nhà ông T1 bảo Cuôn B1 và Nhum Th về, nhưng nhóm người nhậu chung thì kêu ở lại nhậu, rồi bị cáo T đi vào nhà ông T1 cùng tham gia uống rượu. Ông T1 đi ra ngoài nói chuyện với ông T2, thì hai bên xảy ra mâu thuẫn cự cãi qua lại dẫn đến xô xát đánh nhau. Ông T2 dùng tay đánh ông T1 chảy máu mũi, đồng thời la lên “Tụi bây ơi, thằng T1 nó đánh tao” thì bị cáo T cùng những người đang nhậu chạy ra, bị cáo T lấy con dao trong túi quần ra và dùng dao đâm vào bụng ông T1 01 cái, ông T1 tiếp tục chạy ra phía sau nhà lấy cái dá sắn đất cầm trên tay định đánh lại ông T2 nhưng được mọi người can ngăn và ngất xỉu, nên gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều T. Sau khi điều T về nhà ông T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tại Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số 148/TgT.21-PY ngày 06-10-2021 của Trung Tâm pháp y thuộc sở y tế Long An kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phan Thanh T1 là 34% (Ba mươi bốn phần trăm). Vết thương do vật sắt nhọn gây ra.
Về vật chứng thu giữ: 01 con dao bấm bằng kim loại màu trắng, lưỡi dao dài 10 cm, mũi nhọn có in chữ U.S.A, cán dao dài 13 cm có ốp nhựa hai bên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 50; Điều 54; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo T kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Quá trình xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định của pháp luật, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho mẹ già và người anh đều mắc bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai nhận: Giữa bị cáo và người bị hại Phan Thanh T1 không có mâu thuẫn gì với nhau. Trưa ngày 04-6-2021, bị cáo T đang ngồi uống rượu trong nhà của bị hại Phan Thanh T1, thì nghe bên ngoài ông Nguyễn Văn T2 la lên “Tụi bây ơi, thằng T1 nó đánh tao”, bị cáo nghe vậy nên chạy ra hỗ trợ ông T2, nên đã dùng con dao bấm bằng kim loại do bị cáo mang theo cất giấu trong người đâm một cái vào vùng bụng của ông T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34%. Xét, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội.
Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.
[3] Bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Hơn nữa, tại Điều 65 Bộ luật Hình sự quy định “Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách ...”. Trong vụ án này, bị cáo T bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 năm 06 tháng tù, nên không có căn cứ để xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.
[4] Từ những phân tích trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An (01); - Sở Tư pháp tỉnh Long An (01); - TAND huyện Châu Thành (02); - VKSND huyện Châu Thành (01); - CQĐT Công an huyện Châu Thành (01); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (01); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thiện Tâm |