- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2020 tại tiệm Nét Vip thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Trần Ngọc T đã có hành v…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2021/HSST Ngày: 19/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang.
Ông Phạm Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2021/TLST-HS ngày 11/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2021/QĐXXST-HS ngày 11/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 47 ngày 25/6/2021, Thông báo dời lịch ngày 13/7/2021, 21/7/2021, 20/8/2021, 01/9/2021, 13/10/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 109 ngày 11/11/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc T, sinh năm: 1991 tại Đ.
Hộ khẩu thường trú và cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đ.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa.
Trình độ học vấn: 5/12.
Nghề nghiệp: Không.
Cha là ông Trần Phi D, sinh năm: 1965 và mẹ là bà Bùi Thị Ngọc T, sinh năm: 1964; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/3/2021.
- Bị hại: Anh Trần Minh K, sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Trọng T, sinh năm: 1978 (tiệm cầm đồ T1 Trân).
Địa chỉ: 538B thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đ.
- Người làm chứng: Anh Trần Hồng P, sinh năm: 1988.
(bị cáo, các đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc T là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy và chơi game đánh bạc trên mạng. Khoảng 10 giờ ngày 28/12/2020, T đến tiệm tiệm Internet “Net Víp” ở ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chơi thì gặp anh Trần Minh K (là bạn) đang ngồi chơi game, T hỏi mượn xe môtô hiệu Honda Wave biển số 60X8-8456 của anh K để đi về nhà lấy tiền, anh K đồng ý. T điều khiển xe mô tô 60X8-8456 về đến nhà thấy không có ai ở nhà nên T điều khiển xe đến ấp Sông Mây, xã Bắc Sơn để tìm người quen mượn tiền, khi đến cây xăng Kiệm Bình thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom thì xe không nổ máy, T mở nắp bình xăng kiểm tra thì thấy trong cốp xe có 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe tên Trần Minh K, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60X8-8456 nên nảy sinh ý định đem cầm giấy tờ xe lấy tiền để chơi game. T lấy 01 giấy chứng minh nhân dân pho tô mang tên Trần Minh K và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60X8-8456 đem đến tiệm cầm đồ T1 Trân tại ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom do anh Hồ Trọng T1 làm chủ cầm được 300.000 đồng, khoảng 15 phút sau T đem xe về tiệm “ Net Víp” trả cho anh K và tiếp tục ngồi chơi game. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 60X8-8456 của anh K lấy tiền tiêu xài nên đã nói dối anh K mượn xe đi mua thẻ game, anh K đưa chìa khóa xe cho T mượn. Sau đó, T đem xe mô tô biển số 60X8-8456 đến tiệm cầm đồ T1 Trân cầm xe và lấy 2.200.000 đồng, rồi T bắt xe ôm đến tiệm “Nét Đạt” ở ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom để ngồi chơi game đánh bạc trên mạng. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày T hết tiền nên tiếp tục đến gặp anh T1 cầm thêm 2.500.000 đồng (anh T1 ghi thêm số tiền vào giấy cầm đồ trước đó), có được tiền T mượn điện thoại bạn gọi cho các đối tượng Nhàn Thu, Tuấn Tuyết (không rõ nhân thân lai lịch) mua ma túy đá sử dụng hết. Đến 15 giờ ngày 30/12/2020 T tiếp tục đến tiệm cầm đồ gặp anh T1 cầm thêm thêm 1.000.000 đồng (anh T1 tiếp tục ghi thêm vào giấy cầm đó trước đó), rồi tiếp tục đến tiệm Nét Đạt chơi game đánh bạc.
Anh K không thấy T trả lại xe nên đã tìm T nhưng không gặp. Đến khoảng 18 giờ ngày 31/12/2020 anh K cùng người nhà gặp T đang chơi game ở tiệm Nét Đạt nên yêu cầu T trả lại xe nhưng T không có tiền chuộc xe cho anh K.
Anh K đã làm đơn trình báo sự việc với Công an xã Bắc Sơn và tố cáo T lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Công an xã Bắc Sơn đã lập hồ sơ ban đầu và T1 hành thu giữ xe môtô biển số 60X8-8456, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60X8-8456, hợp đồng cầm cố tài sản của tiệm cầm đồ T1 Trân sau đó bàn giao Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom điều tra theo thẩm quyền.
Theo bản kết luận định giá tài sản ngày 02/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Trảng Bom kết luận: Xe môtô hiệu Honda Wave biển số 60X8-8456 của anh Trần Minh K đã qua sử dụng có trị giá 8.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 114/CT-VKS-TB ngày 04/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Trần Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 60X8-8456, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của anh Trần Minh K, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh K.
Về dân sự: Anh K đã nhận xe và không có yêu cầu gì khác. Anh Hồ Trọng T1 yêu cầu T bồi thường 6.000.000 đồng là số tiền đã cho T cầm đồ.
Đối với hành sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Ngọc T, Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với hành vi đánh bạc trên mạng của T nhưng T không nhớ trang mạng nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố của anh Hồ Trọng T1 đã vi phạm Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với “Tuấn Tuyết” có tên thật là Phan Anh T và đối tượng “Nhàn Thu” có tên thật là Nguyễn Thị Ngọc T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đến xác minh truy tìm nhưng hiện nay Tuấn và Thu không có mặt tại địa phương, nên chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo T từ 08 tháng đến 12 tháng tù.
- Bị cáo vắng mặt nên không có trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 12/11/2021, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo T.
Về trách nhiệm hình sự:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2020 tại tiệm Nét Vip thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Trần Ngọc T đã có hành vi gian dối hỏi mượn xe mô tô biển số 60X8-8456 của anh Trần Minh K để đi về nhà lấy tiền nhưng sau đó đem đi cầm cố lấy tiền chơi game và mua ma túy sử dụng. T chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh K có trị giá là 8.000.000 đồng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Về dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hồ Trọng T1 số tiền 6.000.000 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù.
2. Về dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải bồi thường cho anh Hồ Trọng T1 số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh T số tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục thi hành án huyện; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo, bị hại; đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |