vanban.org

Bản án 204/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Nhựt H. Bà Võ Thị Nhựt H được ly hôn với ông Võ Huy Đ. Về con chung: Giao cháu Võ Huy H, sinh ngày 09/12/2016 và Võ Huy V, sinh ngày 21/09/2019 cho Bà H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Võ Huy Đ không phải cấp d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 204/2021/HNGĐ – ST
Ngày 22 – 11 – 2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hữu Tấn

2. Ông Lê Thành Thật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 400/2021/TLST – HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Nhựt H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số nhà A, đường TNH, phường ML, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Võ Huy Đ, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số nhà B, Tổ C, ấp TT, xã TĐ, huyện TH, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà A, đường TNH, phường ML, thành phố L, tỉnh An Giang.

( Bà H và ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2021, bản tự khai và văn bản trình bày ý kiến vào ngày 12/10/2021 nguyên đơn là bà Võ Thị Nhựt H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đ tự nguyện quen biết, tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tạ Ủy ban nhân dân phường ML vào ngày 26/7/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông Đ thường xuyên vay mượn nợ, không phụ giúp kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Bà H nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về quan hệ con chung: Bà H và ông Đ có 02 con chung tên Võ Huy H, sinh ngày 09/12/2016; Võ Huy V, sinh ngày 21/09/2019. Con chung hiện đang sống chung với bà Võ Thị Nhựt H, sau khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông Võ Huy Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay Bà H phải đi làm xa, điều kiện đi lại khó khăn nên xin vắng mặt tại phiên hòa giải và xét xử.

Bị đơn ông Võ Huy Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông Đ thống nhất với Bà H về điều kiện tiến tới hôn nhân cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Nay Bà H yêu cầu ly hôn, ông Đ đồng ý ly hôn do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Võ Huy H, sinh ngày 09/12/2016; Võ Huy V, sinh ngày 21/09/2019. Sau khi ly hôn, ông Đ đồng ý để Bà H nuôi dưỡng hai con chung. Ông Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Bà Võ Thị Nhựt H và ông Võ Huy Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt lý do điều kiện đi lại khó khăn vì đang đi làm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến nay:

- Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà H.

- Về con chung: Bà H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung.

- Về cấp dưỡng: Ông Đ không phải cấp dưỡng do bà H không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa bà Võ Thị Nhựt H với ông Võ Huy Đ là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

Bà Võ Thị Nhựt H và ông Võ Huy Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do phải đi làm, điều kiện đi lại khó khăn. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt Bà H và ông Đ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đ tự nguyện quen biết, tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tạ Ủy ban nhân dân phường ML vào ngày 26/7/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông Đ thường xuyên vay mượn nợ, không phụ giúp kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Bà H và ông Đ nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà H và ông Đ thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà H và tạo thêm thời gian để vợ chồng bà H ông Đ có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà H dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông Đ không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà H và ông Đ có 02 con chung tên Võ Huy H, sinh ngày 09/12/2016; Võ Huy V, sinh ngày 21/09/2019. Cháu Hoàng và Vũ hiện nay đang sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung. Xét thấy, hiện nay hai con chung đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng ông Đ cũng đồng ý theo yêu cầu của bà H, do đó để đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Võ Huy H và Võ Huy V cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà H và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Đ được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông Đ thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Bà Võ Thị Nhựt H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 177; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Nhựt H. Bà Võ Thị Nhựt H được ly hôn với ông Võ Huy Đ.

- Về con chung: Giao cháu Võ Huy H, sinh ngày 09/12/2016 và Võ Huy V, sinh ngày 21/09/2019 cho Bà H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Võ Huy Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Võ Thị Nhựt H cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông Võ Huy Đ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Bà Võ Thị Nhựt H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do Bà H đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000538 ngày 30/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Võ Thị Nhựt H và ông Võ Huy Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ