vanban.org

Bản án 204/2019/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/08/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị N.

Sửa bản án sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trần Văn Mo - Trần Thị Nghĩ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2019/DS-PT
Ngày: 06 – 8 - 2019
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan

Các Thẩm phán:

Ông Chung Văn Kết

Bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2019/TLPT-DS ngày 20 tháng 6 năm 2019.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2019/DS-ST ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn M – sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C.

Bị đơn: Bà Trần Thị N – sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Quốc T – sinh năm 1963 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh C.

Người kháng cáo: Bị đơn là bà Trần Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Văn M trình bày:

Vào ngày 10/7/2017 âm lịch, ông có tham gia 01 chân hụi 2.000.000 đồng do vợ chồng bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T làm chủ, hụi có 29 chân, mỗi tháng đóng một lần, ông đã đóng được 15 lần. Đến ngày 10/9/2018 âm lịch, vợ chồng bà Nghỉ tuyên bố đình hụi nên không cho hụi viên bỏ thăm hốt hụi nữa. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T trả cho ông số tiền hụi sống là 30.000.000 đồng.

Bị đơn, bà Trần Thị N trình bày: Vào ngày 10/7/2017 âm lịch bà có mở 1 dây hụi 2.000.000 đồng, có 29 chân, mỗi tháng khui một lần. Khi đó bà Trần Thị Đlà chị ruột của ông Trần Văn M có tham gia 02 chân và đã hốt 01 chân vào ngày 10/9/2018 âm lịch, còn sống 01 chân bà Điểm đã đóng được 14 lần với số tiền 18.560.000 đồng. Đến ngày 10/9/2018 âm lịch bà đình hụi. Trong giấy theo dõi tiền đóng hụi hàng tháng bà ghi tên Điểm một chân và tên Mo một chân nhưng bà chỉ giao dịch với bà Điểm chứ không có giao dịch với ông M. Do đó bà không đồng ý trả số tiền theo yêu cầu của ông M.

Đối với ông Trần Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T.

Buộc bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T trả cho ông Trần Văn M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/5/2019 bị đơn là bà Trần Thị N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Trần Thị Đ trả cho ông Trần Văn M số tiền 30.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nghỉ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước để đưa bà Đ vào tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị N về việc không đồng ý ông M là thành viên chơi hụi của bà, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà N và ông M đều thừa nhận việc đóng hụi cho bà N là do bà Đ trực tiếp đóng hai chân hụi 2.000.000 đồng mỗi tháng khui một lần. Ông M cho rằng hàng tháng ông gửi tiền cho bà Đ đóng hụi cho bà Nghỉ 01 chân hụi thay cho ông. Bà Đ thừa nhận trong hai chân hụi, bà Đ chơi 01 chân và ông M chơi 01 chân, hằng tháng ông M gửi tiền cho bà Đ đóng hụi thay. Bà Nghỉ thừa nhận khi bà Đ đăng ký chơi hai chân hụi, bà Đ yêu cầu bà ghi một chân tên Mo và một chân tên Đ nên bà đã ghi giấy và giao cho các hụi viên. Mỗi tháng bà Đ nộp cho bà hai chân hụi trong đó có một chân hụi ghi tên Mo và một chân hụi ghi tên Đ. Như vậy, mặc dù ông M không trực tiếp đóng hụi cho bà Nghỉ, nhưng bà Nghỉ đã đồng ý ghi tên Mo trong giấy hụi theo yêu cầu của bà Đ và giao cho các thành viên chơi hụi, chứng tỏ bà N đã thừa nhận ông M chơi một chân hụi do bà làm chủ. Do đó bà Nghỉ kháng cáo cho rằng ông M không có chơi hụi của bà Nghỉ là không có cơ sở.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nghỉ về số lần ông M đóng hụi. Bà Nghỉ thừa nhận chân hụi ghi tên Đ bà Đ đóng được 14 lần, đến lần thứ 15 bà Đ hốt hụi, còn chân hụi ghi tên Mo thì chưa hốt. Do vào ngày 10/9/2018 bà Nghỉ tuyên bố đình hụi nên ông M yêu cầu bà Nghỉ phải trả cho ông M số tiền hụi đã đóng 15 lần. Bà Nghỉ thừa nhận ông M chỉ đóng hụi cho bà được 14 lần bằng 18.560.000 đồng. Tại biên bản làm việc với bà Trần Thị Đ(BL 53) và biên bản làm việc của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau ngày 26/7/2019 (BL 91) bà Đ thừa nhận chân hụi của bà Đ, bà Đ đã hốt ở lần khui hụi thứ 15 là ngày 10/9/2018, còn chân hụi ông M chưa hốt nên ông M cũng đã gửi tiền cho bà để bà nộp tiền hụi cho bà Nghỉ lần thứ 15 vào ngày 10/9/2018. Bà N cũng thừa nhận chân hụi ghi tên ông M, do bà Đ nộp hụi hàng tháng và bà Đ đã hốt hụi vào lần thứ 15 là ngày 10/9/2018 bà Nghỉ đã giao tiền hụi cho bà Đ xong. Như vậy tại lần khui hụi thứ 15 bà Đ hốt hụi thì khi giao tiền hụi cho bà Đ đương nhiên bà Nghỉ phải trừ số tiền hụi của chân hụi ghi tên ông M mà lẽ ra bà Đ phải đóng cho bà Nghỉ nếu bà Đ không hốt hụi. Do ông M không trực tiếp nộp hụi cho bà Nghỉ nên không thể có việc bà Nghỉ chung đủ tiền hụi cho bà Đ mà không trừ số tiền hụi của ông M. Tại phiên tòa, bà Nghỉ tranh luận cho rằng khi bà Đ hốt hụi ở lần thứ 15, bà Nghỉ đã giao đủ tiền cho bà Đ để sau đó bà Đ nộp lại tiền hụi của chân hụi ghi tên ông M nhưng sau khi nhận tiền bà Đ không nộp số tiền hụi của lần hụi thứ 15 của chân hụi ghi tên ông M. Việc tranh luận này là không có cơ sở, do đó chấp nhận số lần ông M nộp tiền hụi cho bà Đ là 15 lần. Do đó buộc bà Nghỉ phải trả cho ông M số tiền hụi của 15 lần ông M đã đóng hụi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M và bà Nghỉ thống nhất số tiền hụi ông M đã đóng cho bà Nghỉ 15 lần là 19.530.000 đồng theo giấy theo dõi hụi do bà Nghỉ cung cấp (BL 46). Ông M yêu cầu bà Nghỉ phải trả lãi cho ông trong các lần nộp hụi hoặc buộc bà Đ trả cho ông 30.000.000 ông sẽ trả tiền hoa hồng cho bà Nghỉ. Theo Nghị định số 144/2006-NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu phường quy định tại Điều 21 về Quyền của thành viên trong hụi đầu thảo “ Đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở họ, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định này”.Như vậy việc ông M yêu cầu tính lãi trong các lần nộp hụi là phù hợp. Buộc bà Nghỉ phải trả cho ông M số tiền hụi ông M đã đóng là 15 lần bằng 19.530.000 đồng và số tiền lãi ông M được hưởng trong các lần đóng hụi theo mức lãi suất do Nhà nước quy định đến ngày xét xử phúc thẩm là 5.520.000 đồng. Tổng cộng buộc bà Nghỉ phải trả cho ông M là 25.050.000 đồng.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà N về trách nhiệm trả tiền. Bà Nghỉ cho rằng do bà Đ hốt hụi của bà một chân nhưng không đóng hụi chết nên bà N không đồng ý trả tiền cho ông M mà yêu cầu bà Đ phải trả cho ông M. Hội đồng xét thấy việc bà Đ hốt hụi của bà N, bà N đã giao hụi cho bà Đ thì bà Đ phải có nghĩa vụ nộp hụi chết cho bà Nghỉ cho đến khi mãn hụi. Tuy nhiên đã qua bà Đ không nộp hụi cho bà Nghỉ thì bà Nghỉ có quyền khởi kiện bà Đ để yêu cầu bà Đ trả tiền hụi cho bà Nghỉ. Tại hồ sơ thể hiện, ngoài chân hụi 2.000.000 đồng ra bà Đ còn chơi một chân hụi 500.000 đồng do bà Nghỉ làm chủ nhưng bà Đ chưa hốt hụi. Bà Nghỉ thừa nhận đã qua giữa bà N và bà Đ chưa tính toán các khoản tiền hụi để xác định bà Đ còn nợ bà Nghỉ bao nhiêu tiền, do đó hiện nay bà Nghỉ yêu cầu bà Đ phải trả tiền hụi cho ông M là không có cơ sở.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình xét sử sơ thẩm, bà N không tham gia hòa giải và không có yêu cầu gì về trách nhiệm trả tiền hụi của bà Đ, ông M cũng không yêu cầu gì đối với bà Đ mà chỉ yêu cầu bà Nghỉ trả tiền hụi cho ông M, nên cấp sơ thẩm không đưa bà Đ vào tham gia tố tụng và đã buộc bà Nghỉ trả tiền hụi cho ông M là phù hợp. Đối với số tiền hụi bà Đ nợ bà N nếu bà Đ và bà Nghỉ không thỏa thuận được thì bà Nghỉ có quyền khởi kiện bà Đ thành vụ kiện khác. Do đó không cần thiết hủy án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nghỉ có đơn xin miễn giảm án phí do sự kiện bất khả kháng dẫn đến hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được UBND xã xác nhận. Do đó theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Hội đồng xét xử thống nhất giảm cho bà Nghỉ 50% số tiền án phí mà bà Nghỉ phải nộp.

Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nghỉ nên bà Nghỉ không phải chịu án phí theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị N.

Sửa bản án sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M đối với bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T.

Buộc bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T trả cho ông Trần Văn M số tiền 25.050.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị N và ông Trần Quốc T phải chịu 626.000 đồng (chưa nộp). Ông Trần Văn M phải chịu 300.000 đồng, ngày 14/12/2018 ông M có dự nộp 750.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0005003 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại 450.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị N không phải chịu. Đã qua, bà Nghỉ đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004461 ngày 29/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được nhận lại.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ