vanban.org

Bản án 203/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 18/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Duy T – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) về phần hình phạt. Xử phạt bị cáo Võ Duy T 01(một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Duy T - Gây rối TT công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2025/HS-PT
Ngày: 18-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết

Các Thẩm phán:

1. Ông Lê Ngọc Minh

2. Bà Nguyễn Thị My My

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk

Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo Võ Duy T về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 133/2025/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Võ Duy T; Tên gọi khác: Tân lép; giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 9 năm 1991, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 40/13/2 N, phường B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Võ X, (Đã chết); Họ và tên mẹ Nguyễn Thị C, có vợ là Huỳnh Thị Thùy D, sinh năm: 1993 (Đã ly hôn); có 01 con, sinh năm: 2013;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/6/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm, xử phạt 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án số 235/2015/HSPT, đã được xóa án tích. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án này còn có 02 bị cáo: Nguyễn Minh H và Nguyễn Đan B không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 3 năm 2024, do mâu thuẫn làm ăn chung với nhau từ trước, Nguyễn Đan B rủ Võ Duy T đi đến nhà Nguyễn Minh H, tại địa chỉ: Số A Y, Buôn Ma T1, tỉnh Đắk Lắk để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, thì T đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu BMW, màu sơn vàng, biển số 15A- 408.31 chở T đến nhà H, thì gặp chị Nguyễn Thị Mỹ L (Là vợ của H) nói H không có nhà, nên B điều khiển xe chở T đi về. Thấy vậy, chị L gọi điện thoại báo cho H biết về việc T và B đến nhà tìm, nên H nghĩ rằng B và T đến nhà tìm để đánh mình, nên gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T2, (Là em họ của H) nói “Có mấy đứa đến đập cửa nhà, chạy vô coi xem sao”, thì T2 đồng ý. Lúc này, T2 đang ngồi nhậu cùng với Trần H1, Huỳnh Hồng L1, Nguyễn Viết Đăng K và 02 người nam thanh niên tên M, S (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở nhà của T2 số 22 Y, phường B, nên T2 rủ H1 đi cùng, thì H1 đồng ý. T2 dắt xe mô tô ra chuẩn bị để đi, thì H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, màu sơn đỏ, biển số 47A-551.58 từ hướng đường P đến dừng trước cửa nhà T2. H thấy T2 nên hạ kính trước xuống nói “lên xe” thì T2 bước lên xe của H và ngồi ở ghế trước bên phụ, còn H1 lên xe ngồi phía sau. Ngay lúc này, H nhìn thấy phía trước đối diện bên đường có 01 chiếc xe ô tô hiệu BMW, màu sơn vàng, biển số 15A - 408.31 chạy đến gần, H nhận ra đây là xe B nên nảy sinh ý định tông vào xe ô tô do B điều khiển. H điều khiển xe ô tô 47A - 551.58 chạy ra giữa lòng đường lấn sang phần đường xe ô tô 15A - 408.31 đang chạy đến, B thấy vậy nên điều khiển xe ô tô 15A - 408.31 lách về phía lề đường bên phải. H tiếp tục điều khiển xe tông vào phần hông bên trái xe ô tô biển số 15A - 408.31, làm xe ô tô biển số 15A - 408.31 nghiêng về bên phải, kính trước bên tài bị vỡ, (lúc này phát ra một tiếng nổ lớn), B nhìn qua kính chiếu hậu nhận ra H điều khiển xe đâm vào xe của B, nên B điều khiển xe bỏ chạy theo hướng về đường P, thành phố B, thì H điều khiển xe quay đầu đuổi theo phía sau xe của B với tốc độ nhanh, lạng lách trên đường theo hướng từ đường Y rẽ phải vào đường P, rẽ phải vào đường P, (qua nhiều đoạn ngã tư nhưng hai xe đều không giảm tốc độ, không dừng xe khi có tín hiệu đèn đỏ, trên đường có rất nhiều người dân đang điều khiển phương tiện). Khi đến gần ngã tư đường P và Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk, B điều khiển xe tấp vào lề đường, thì H điều khiển xe ô tô từ phía sau đến áp sát bên hông trái xe của B rồi hạ 02 kính cửa phía trước xuống. Lúc này, T cầm một khẩu súng ngắn mở cửa trước bên phụ bước xuống xe, thì H tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 47A – 551.58 chạy lên phía trước, T cầm súng bắn liên tiếp 04 phát chỉ thiên lên trời, còn B điều khiển xe ô tô biển số 15A – 408.31 đuổi theo tông mạnh vào phần đuôi xe ô tô biển số 47A – 551.58 do H điều khiển, gây hư hỏng phần đuôi xe và làm bánh xe dự phòng rớt xuống tại khu vực ngã tư đường P và Y, Buôn Ma T1, tỉnh Đắk Lắk. H thấy vậy điều khiển xe ô tô biển số 47A – 551.58 rẽ phải vào đường Y, thì B điều khiển xe ô tô biển số 15A – 408.31 tiếp tục bám đuổi theo phía sau xe ô tô biển số 47A – 551.58 của H, còn T chạy bộ trên tay cầm khẩu súng đuổi theo sau 02 xe. Sau đó, H điều khiển xe chạy ra đường P rẽ hướng về đường Y, khi đến gần khu vực ngã ba đường Y và N, phường B, tỉnh Đắk Lắk, H dừng xe ở đường Y. Sau đó, H và H1 xuống xe, rồi H nói T2 điều khiển xe ô tô biển số 47A – 551.58 đến đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để xe ô tô biển số 47A – 551.58 ở đây rồi đi về, còn B điều khiển xe ô tô 15A – 408.31 đi đến trước ngôi nhà địa chỉ: Số A N, phường T, tỉnh Đắk Lắk để xe ô tô ở đây rồi đón xe taxi đi Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Kết luận giám định số: 506/KL-KTHS, ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: 03 (ba) vỏ đạn và 01 viên đạn của loại đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, viên đạn còn sử dụng được. Đạn cao su cỡ (9 x 22)mm sử dụng cho các loại súng cỡ nòng 9mm như: Streamer, RG88, E...các loại súng, đạn trên thuộc công cụ hỗ trợ (không phải vũ khí).

- 02 (hai) vỏ đạn là do cùng một khẩu súng bắn ra 01 (một) vỏ đạn là do khẩu súng khác bắn ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Đan B và Võ Duy T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Duy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt cho các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí

và quyề n kháng cáo cho các bị cáo, các đư ơ ng sự khác theo quy đị nh củ a pháp luậ t.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2025, bị cáo Võ Duy T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Duy T về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Võ Duy T là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đang phải nuôi mẹ già và con nhỏ, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Duy T 01(một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Võ Duy T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào tối ngày 02/3/2024, trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Minh H điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, màu đỏ, biển số 47A – 551.58 đâm vào phần bên tài (bên trái) chiếc xe ô tô nhãn hiệu BMW, biển số 15A – 408.31 do bị cáo Nguyễn Đan B điều khiển chở theo bị cáo Võ Duy T, đã làm xe ô tô nhãn hiệu BMW, biển số 15A – 408.31 hư hỏng trị giá 17.300.000 đồng. Sau đó bị cáo Nguyễn Đan B điều khiển xe ô tô biển số 15A – 408.31 bỏ chạy, thì bị cáo Nguyễn Minh H điều khiển chiếc xe ô tô biển số 47A – 551.58 đuổi theo sau, cả 02 xe chạy với tốc độ cao, lạng lách, vượt đèn đỏ từ đường Y ÊNuôl đến ngã tư đường P và đường Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk, B điều khiển xe tấp vào lề đường, thì H điều khiển xe ô tô từ phía sau đến áp sát bên hông trái xe của B rồi hạ 02 kính cửa phía trước xuống. Lúc này,T cầm một khẩu súng ngắn mở cửa trước bên phụ bước xuống xe, H tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 47A – 551.58 chạy lên phía trước, T cầm súng bắn liên tiếp 04 phát chỉ thiên lên trời còn bị cáo Nguyễn Đan B điều khiển xe ô tô biển số 15A – 408.31 đâm vào đuôi xe ô tô của bị cáo H điều khiển, làm hư hỏng xe ô tô biển số 47A – 551.58 trị giá 44.220.000 đồng. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự nơi công cộng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Duy T về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Duy T, thì thấy: Mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm giấy xác nhận bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải nuôi mẹ già và con nhỏ. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Võ Duy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Duy T – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) về phần hình phạt.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Duy T 01(một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về án phí: Bị cáo Võ Duy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ