- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỷ Chắn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lỷ C P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 203/2024/HS-ST Ngày: 30-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu
Ông Đặng Quang Hoạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024, đối với bị cáo:
Lỷ Chắn P, sinh ngày 06/12/1993 tại tỉnh Đồng Nai.
Trú tại: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không
Trình độ học vấn: 6/12
Dân tộc: Hoa Giới tính
: Nam
Tôn giáo : Không Quốc tịch
: Việt Nam
Con ông Lỷ Pểnh S và bà Hỷ Nhì M.
Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 14/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 04/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 22/3/2022.
- Ngày 04/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 05/QĐ-TA. Ngày 22/5/2024, Cơ sở điều trị nghiện ma túy ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành số 31/QĐ-CSĐTNMT.
Bị giam giữ từ ngày 22/5/2024. (Có mặt)
* Bị hại: Bà Vắn Phu M1, sinh năm 1998
Trú tại: tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu T (H), sinh năm 1955
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 50 phút ngày 06/11/2023, Lỷ C P cầm theo 01 cái tua vít đi bộ đến nhà ông V Nhật Ốn thuộc tổ B, ấp T, xã T, huyện T, khi đến vị trí cửa sắt phía sau nhà, P dùng tua vít lay mạnh, làm cho tôn cửa bị rách, rồi luồn tay vào mở chốt bên trong. Sau khi mở được cửa, P đi vào trong nhà và lên phòng ngủ của bà Vắn Phu M1 là con gái của ông Ổ thì phát hiện trong tủ trang điểm có 01 giỏ xách màu đen. P mở ra thấy bên trong có 04 nhẫn, 01 lắc chuỗi bi, 02 vòng tròn, 02 đôi bông tai tất cả đều bằng vàng. P lấy số vàng trên bỏ vào trong túi áo rồi đi bộ ra ngã tư T, xã T, huyện T, trên đường đi Phúc ném cây tua vít vào bụi cỏ. Khi đến ngã tư T P thuê ông Nguyễn Hữu T là tài xế xe ôm chở P đi đến tiệm V1 thuộc ấp T, xã B, huyện T do bà Hà A S1 làm chủ bán 01 lắc chuỗi bi và 01 nhẫn được số tiền 11.000.000đ. Đến ngày 07/11/2023, P đem số vàng còn lại gồm 03 cái nhẫn, 02 cái vòng tròn và 02 đôi bông tai đến một tiệm vàng (không nhớ chính xác tên tiệm V1) tại chợ B, xã T, huyện T bán được số tiền 11.300.000đ. Tất cả số tiền hai lần bán vàng trên P sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân.
Sau khi bị mất tài sản ông V Nhật Ổn đến Công an xã T, huyện T trình báo. Công an xã T đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo quy định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện T định giá tài sản là 04 nhẫn, 01 lắc chuỗi bi, 02 vòng tròn, 02 đôi bông tai bằng vàng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HDĐGTS ngày 02/04/2024 xác định tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 27.279.000 đồng.
Ngày 08/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lỷ Chắn P1. Quá trình điều tra bị can P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 219/CT-VKS-TB ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Lỷ Chắn P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lỷ C P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lỷ C P1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với số vàng gồm 04 nhẫn, 01 lắc chuỗi bi, 02 vòng tròn, 02 đôi bông tai bằng vàng tây và 01 tua vít không xác định được kích thước, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Vắn Phu M1 là chủ sở hữu số tài sản bị P1 lấy trộm, tuy nhiên do có mối quan hệ họ hàng nên bà M1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại hay yêu cầu dân sự nào khác.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
Bị cáo Lỷ C P1 là đối tượng có sử dụng ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Vào khoảng 09 giờ 50 phút ngày 06/11/2023, tại nhà ông Vắn N thuộc tổ B, ấp T, xã T, huyện T, bị cáo đã lợi dụng việc nhà không có người trông coi nên thực hiện hành vi lén lút cạy cửa đi vào bên trong và lục tủ trang điểm trong phòng ngủ lấy 04 nhẫn, 01 lắc chuỗi bi, 02 vòng tròn, 02 đôi bông tai (tất cả đều bằng vàng) của bà Vắn Phu M1, rồi mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 27.279.000 đồng. Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không tu chí mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử bị cáo mức án thật nghiêm để trừng phạt và cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống tuân thủ pháp luật.
Khi lượng hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – bà V Phu Mỹ không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về các vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Hữu T là người Phúc thuê chở đi bán vàng, ông T không biết việc P1 trộm cắp tài sản và bà Hà A S1 (chủ tiệm V1) khi mua số vàng P1 bán cũng không biết đó là tài sản do P1 trộm cắp nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, hình phạt và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lỷ C P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lỷ Chắn P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lỷ C P1 phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Đương sự; - UBND xã nơi b/c cư trú; - VKSND h.Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Nhà tạm giữ CA h.Trảng Bom; - Công an h.Trảng Bom; - CC.THADS h.Trảng Bom; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đỗ Thùy Dung |