vanban.org

Bản án 203/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 30/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn anh Lê Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu Lê Bảo T, sinh ngày 18/10/2016 cho anh Lê Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu Lê Bảo T cho bà Đoàn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Đ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn anh Lê Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Phương

Ông Nguyễn Đức Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2023/QĐ-ST ngày 15/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh ngày 13/3/1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chị H ủy quyền cho bà Tạ Hương L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn Đ, sinh ngày 04/10/1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.

Nơi cư trú cuối cùng của anh Đ tại Việt Nam: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Đoàn Thị P, sinh năm 1973 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Đ được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 01/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn, năm 2018 chị, anh Đ cùng nhau đi lao động tại Trung Quốc. Sang Trung Quốc vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 4/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 4/2020 đến nay chị và anh Đ không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Lê Bảo T, sinh ngày 18/10/2016. Hiện nay cháu T đang sinh sống cùng bà Đoàn Thị P (bà nội). Sau ly hôn chị đề nghị giao con chung cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho bà Đoàn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về Việt Nam sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị H trình bầy do chị bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và xin vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa xét xử. Chị ủy quyền cho bà Tạ Hương L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Anh Lê Văn Đ là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị P trình bày: bà là mẹ anh Lê Văn Đ. Anh Đ, chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà bà làm dâu và chung sống hòa thuận. Sau khi cưới một thời gian anh, chị cùng đi lao động tại Trung Quốc. Sang Trung Quốc một thời gian thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh, chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Bà có khuyên bảo anh, chị nhưng không được.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Lê Bảo T, sinh ngày 18/10/2016, hiện nay cháu đang sinh sống cùng bà. Bà đồng ý nuôi cháu T giúp anh Đ trong thời gian anh Đ lao động tại nước ngoài. Bà xác định việc nuôi cháu T từ khi anh Đ, chị H đi lao động đến nay vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của bà đối với cháu nên bà không yêu cầu anh Đ, chị H phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T.

Ngoài ra, bà P cung cấp: Anh Đ đi lao động tại nước ngoài khi đang sinh sống cùng bà tại Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Trung Quốc anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Bà đã thông báo cho anh Đ biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án xin ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị H và anh Đ. Anh Đ cho biết: anh đồng ý ly hôn chị H và nhất trí nuôi con như chị H đề nghị nhưng anh Đ không cung cấp cho địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cháu Lê Bảo T trình bày: Cháu hiện nay đang sinh sống cùng bố, bà nội và được bố, bà nội chăm sóc đầy đủ. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở cùng bố và bà nội.

Tại phiên tòa, chị Đặng Thị H, bà Đoàn Thị P vắng mặt và đều đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Đặng Thị H; biên bản lấy lời khai của bà Phượng là mẹ đẻ anh Lê Văn Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Lê Văn Đ không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, Điều 104; khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H.

Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Lê Văn Đ.

Về con chung: Do anh Đ hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, chị H cũng chuẩn bị đi nước ngoài lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Bảo T cho anh Lê Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Đoàn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị H khởi kiện xin ly hôn anh Đ và đề nghị giải quyết nuôi con. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của chị H nộp tại Tòa án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài. Tại Công văn số 18253/QLXNC-P5 ngày 18/7/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh Lê Văn Đ, sinh ngày 04/10/1994 đã xuất nhập cảnh 95 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 04/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh Đ được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh Đ là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về việc vắng mặt của đương sự:

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Đặng Thị H, bà Đoàn Thị P đều xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, bà P.

Về việc vắng mặt bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn chị H, bà Phượng là mẹ đẻ anh Đ, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Đ trước khi xuất cảnh lần gần nhất là Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh Đ thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh Đ biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Đặng Thị H và bị đơn là anh Lê Văn Đ. Gia đình anh Đ cho biết anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh Đ không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh Đ tại Trung Quốc. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Lê Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh Đ phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn anh Lê Văn Đ.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H, anh Đ chung sống hòa thuận và cùng sang Trung Quốc lao động. Sang Trung Quốc vợ chồng vẫn chung sống hòa thuận nhưng đến tháng 4/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, kể từ đó anh Đ, chị H không còn liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh Đ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh Đ phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

. Về nuôi con chung: Chị H, anh Đ có 01 con chung là Lê Bảo T, sinh ngày 18/10/2016. Hiện đang sinh sống cùng bà P (mẹ đẻ anh Đ). Sau khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho bà P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước sinh sống, cháu T có nguyện vọng được ở cùng bố và bà P, bà P đồng ý nuôi dưỡng cháu T trong thời giam anh Đ ở nước ngoài.

Xét yêu cầu giao nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị H, anh Đ đi lao động đến nay cháu T vẫn do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy, chị H hiện đang ở trong nước nhưng chị H trình bày sẽ tiếp tục đi lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu T trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được ở với bố, bà nội. Mặc dù anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng bà P đồng ý nuôi cháu T giúp anh Đ cho đến khi anh Đ về nước sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao cháu T cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật, nhưng tạm giao cháu T cho bà P nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước sinh sống là phù hợp với điều kiện thực tế, nguyện vọng của con chung và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung phù hợp Điều 81, 104 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn, chị Đặng Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp chị Đặng Thị H có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, chị có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo:

Chị Đặng Thị H, bà Đoàn Thị P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Lê Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn anh Lê Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Bảo T, sinh ngày 18/10/2016 cho anh Lê Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu Lê Bảo T cho bà Đoàn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Đ về nước sinh sống.

Sau khi ly hôn, chị Đặng Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005442 ngày 22/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Đặng Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Đặng Thị H, bà Đoàn Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Lê Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ