- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ánh H và anh Lê Hoàng N"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ánh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hơn
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 530/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm xxxx; (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp a, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Lê Hoàng N, sinh năm xxxx; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp a, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Ánh H trình bày:
Chị H và anh N chung sống với nhau vào năm 2002, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh N thường xuyên nhậu nhẹt với bạn bè về nhà là kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị H, chị H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh N vẫn không thay đổi mà tiếp tục nhậu về đánh đập chị H, hết chịu đựng nổi cảnh bạo lực gia đình nên chị H về nhà mẹ ruột sinh sống từ ngày 16/11/2022 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Xuân Khánh D, sinh ngày xx/x/xxxx và Lê Duy K, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với chị H. Cháu D đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu giải quyết. Ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Khánh mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu K.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Hoàng N vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án và anh N cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh N đối với yêu cầu ly hôn của chị H nên không có ý kiến trình bày.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh H, cho chị H được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao con chung tên Lê Duy K, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lê Hoàng N, sinh năm xxxx, ngụ tại ấp a, xã T, huyện G nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Hoàng N.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh H và anh Lê Hoàng N có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N thường xuyên uống rượu bia với bạn bè rồi về nhà kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị H, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh N không thay đổi mà vẫn tiếp tục đánh đập chị gây thương tích. Anh N đã nhận được văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng vẫn không đến Tòa án mà để mặc chị H với yêu cầu ly hôn, anh N không còn tha thiết gì với cuộc hôn của anh N với chị H. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy anh N mặc nhiên từ bỏ cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án như thế nào, cho thấy anh N không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này nữa, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh N là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh chị chung sống có 02 con chung tên Lê Xuân Khánh D, sinh ngày xx/x/xxxx và Lê Duy Khánh, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với chị H. Ly hôn, cháu Duy đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu giải quyết, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình tố tụng, anh N vắng mặt không có lý do nên không thể hiện được quan điểm và trách nhiệm làm cha của anh N đối với yêu cầu nuôi con chung. Nhằm tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của con chung, hơn nữa con chung là cháu K có nguyện vọng được sống chung với mẹ khi cha mẹ ly hôn nên cần giao cháu K cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh H có yêu cầu ly hôn nên chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ánh H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh H và anh Lê Hoàng N được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Duy K, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị Nguyễn Thị Ánh H được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Lê Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Anh Lê Hoàng N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028401 ngày 23/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Nguyễn Thị Ánh H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, đối với chị H kể từ ngày tuyên án, đối với anh N kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND xã Tân Thành, H.GCĐ; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diễm Trinh |