- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "anh Cao Chí H khởi kiện chị Phan Kiều T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Chí H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn về việc yêu cầu thay đổi cho anh Cao Chí H là người trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-9-2023. V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Minh Trọn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 521/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Chí H, sinh năm 1995 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Phan Kiều T, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 7 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Cao Chí H trình bày: Anh và chị Phan Kiều T đã được Tòa án giải quyết ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Theo thỏa thuận ly hôn thì anh đồng ý giao một người con chung tên là Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Từ khi ly hôn đến hiện tại cháu Cao Kim N vẫn do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, chị T không thực hiện việc nuôi dưỡng con chung được tốt do chị T hiện tại đã có chồng và sinh thêm được một người con, chồng mới của chị T cũng có một người con riêng trước nên chị T hiện tại phải nuôi dưỡng ba người con nhỏ nên chăm sóc con chung với anh không được chu đáo, chị T không cho anh rước con về chơi 03 lần vào năm 2021, ngày 28/12/2022 âm lịch và ngày 07/6/2023 âm lịch nên có báo chính quyền địa phương nhưng không có lập biên bản, ngoài ra chị T có chỗ ở nhưng không tốt và chị T chỉ ở nhà làm nội trợ nên thu nhập không ổn định để nuôi con. Riêng anh thì sống chung với cha mẹ ruột, anh có làm thuê là đóng đáy thu nhập mỗi tháng khoảng 12.000.000 đồng, một tháng anh làm khoảng 15 ngày, sáng đi chiều về nếu giao con lại cho anh nuôi thì thời gian anh đi làm sẽ giao lại cho ông, bà nội chăm sóc và đưa rước đi học. Việc chị T cho rằng anh rước con trả không đúng thời gian đã hứa để cháu trể học là do Cao Kim N đến ngày về không đồng ý về nên anh không đưa được, từ đó chị T mới chạy xuống rước về. Còn việc anh đưa không đến nhà mà đưa đến dọc đường rồi điện chị chạy ra rước là có 01 lần do anh bận công việc nên mới nhờ chị T chạy ra rước cháu giùm. Nay anh yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cho anh là người được trực tiếp nuôi dưỡng Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, bị đơn chị Phan Kiều T trình bày: Chị và anh H đã ly hôn và thỏa thuận giao một người con chung tên là Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại chị đang trực tiếp nuôi dưỡng và Cao Kim N vẫn đang phát triển bình thường về tâm sinh lý, được học tập và có môi trường sống ổn định. Chị hiện tại làm công việc may quần áo tại nhà, thu nhập hàng tháng khoảng 5.000.000 đồng và có chỗ ở ổn định. Trước đây, chị có nhiều lần cho anh H rước con chung về nhà nội chơi nhưng khi đưa cháu trả lại thì anh H trả đúng thời gian để cháu trể học hoặc đưa không đến nhà mà đưa đến dọc đường rồi điện chị chạy ra rước, anh H còn đi uống rượu và dắt cháu theo làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của cháu, nhiều lần như vậy nên từ đó chị không cho anh H rước cháu mà vẫn cho anh H đến thăm nom, chăm sóc. Nay chị không đồng ý giao Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 cho anh H nuôi dưỡng theo yêu cầu khởi kiện của anh H.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Chí H về yêu cầu thay đổi cho anh là người được trực tiếp nuôi dưỡng Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015. Buộc anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc anh Cao Chí H khởi kiện chị Phan Kiều T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Phan Kiều T cư trú tại ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Phan Kiều T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Phan Kiều T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét về nội dung tranh chấp: Anh Cao Chí H và chị Phan Kiều T đã được Tòa án giải quyết ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Theo thỏa thuận thì anh H đồng ý giao một người con chung tên là Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không cấp dưỡng nuôi con. Nay anh H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cho anh H là người được trực tiếp nuôi dưỡng Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị T không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của anh H.
Việc anh H khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con với lý do anh H cho rằng chị T không cho anh H rước con, cụ thể anh H có đến rước 03 lần vào năm 2021, ngày 28/12/2022 âm lịch và ngày 07/6/2023 âm lịch nên có báo chính quyền địa phương nhưng không có lập biên bản. Anh H có cung cấp 01 giấy xác nhận của ông Phạm Văn Trên là Trưởng ban nhân dân ấp Dân Quân, xã Việt Thắng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về việc anh H có đến rước cháu Cao Kim N 03 lần nhưng chị T và gia đình không đồng ý cho anh H rước. Tuy nhiên, qua làm việc ông Phạm Văn Trên xác định đến ngày 07/6/2023 khi nhận được đơn yêu cầu xác nhận của anh H thì ông Phạm Văn Trên mới liên hệ với gia đình chị T hỏi sự việc thì được gia đình xác nhận do anh H rước không trả đúng thời gian và đưa về lại đưa dọc đường điện gia đình ra rước nên không cho anh H rước cháu Cao Kim N, từ đó ông mới xác nhận nội dung đơn của anh H là đúng, chứ sự việc cụ thể khi phát sinh tranh chấp thì không có trình báo hay yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản. Đồng thời, chị T cũng xác định việc chị T không cho anh H rước cháu Cao Kim N là vì anh H trả đúng thời gian để cháu trể học hoặc đưa không đến nhà mà đưa đến dọc đường rồi điện chị T chạy ra rước, nhiều lần như vậy nên từ đó chị T không cho anh H rước cháu. Tại phiên tòa, anh H thừa nhận việc có trả không đúng thời gian là do Cao Kim N đến ngày về thì không đồng ý về nên anh H không đưa được, từ đó chị T mới chạy xuống rước. Còn việc anh H đưa không đến nhà mà đưa đến dọc đường rồi điện chị T chạy ra rước là có 01 lần do anh H bận công việc nên mới nhờ chị T chạy ra rước cháu giùm. Ngoài ra, anh H cho rằng có làm thuê đóng đáy thu nhập mỗi tháng khoảng 12.000.000 đồng, một tháng đi làm khoảng 15 ngày, sáng đi chiều về nếu giao cháu Cao Kim N lại cho anh H nuôi thì thời gian anh H đi làm sẽ giao lại cho ông, bà nội chăm sóc, đưa rước đi học. Trong khi chị T đang làm công việc tại nhà, trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng Cao Kim N. Do đó, việc thay đổi giao cháu Cao Kim N cho anh H nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo được cháu Cao Kim N sẽ được anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Việc anh H cho rằng chị T không có đủ điều kiện để nuôi con như điều kiện về chỗ ở và thu nhập, việc chị T nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Cao Kim N hay vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu Cao Kim N thì anh H cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Thực tế chị T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cao Kim N như việc làm, thu nhập, thời gian, chỗ ở và sinh hoạt. Hiện tại, cháu Cao Kim N đang sống cùng với chị T cho thấy cháu Cao Kim N phát triển bình thường như những trẻ cùng lứa tuổi. Việc chăm sóc, dạy dỗ của chị T từ khi được giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay thể hiện cháu Cao Kim N phát triển tốt cả về thể chất lẫn trí tuệ. Đồng thời, cháu Cao Kim N hiện trên 07 tuổi và cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T.
Từ những phân tích trên, cho thấy lý do anh H khởi kiện để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung không phù hợp với những căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình. Không có căn cứ pháp luật để chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của anh H.
Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, anh Cao Chí H phải chịu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Chí H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn về việc yêu cầu thay đổi cho anh Cao Chí H là người trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Cao Kim N (giới tính nữ), sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, anh Cao Chí H phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019047, ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên anh Cao Chí H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |