vanban.org

Bản án 203/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị A. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng B trả cho bà Võ Thị A số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày bà Võ Thị A có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Hồng B chậm trả tiền th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2022/DS-ST.
Ngày: 09/6/2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Trương Hoàng Hoa.
2/Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Dương Văn Nguyện- Kiểm sát viên.
Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2021/TLST-DS ngày 08
tháng 3 năm 2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 4 năm 2022 và Quyết định
hoãn phiên tòa số 99/2022/QĐST-DS ngày 13/5/2022, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Võ Thị A, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, Tiền Giang.
*Bị đơn: Nguyễn Thị Hồng B, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: ấp M1, xã N, huyện X, Tiền Giang.
Ngày 09 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện nguyên đơn bà Võ Thị A trình bày:

Vào ngày 10/6/2020 bà Nguyễn Thị Hồng B có mượn của bà 150.000.000 đồng mua gà giống và thức ăn gia cầm để chăn nuôi. Khi mượn tiền làm biên nhận nợ có chữ viết, chữ ký của bà B với nội dung khi nào thu hoạch gà sẽ trả tiền. Tuy nhiên đến nay bà B vẫn chưa trả cho bà được khoản tiền nào. Bà A khởi kiện yêu cầu bà B trả 150.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

*Bà Nguyễn Thị Hồng B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có bản khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về pháp luật tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Hồng B cư trú tại ấp M1, xã N, huyện X nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Giữa bà Võ Thị A và bà Nguyễn Thị Hồng B có giao dịch dân sự trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

Tại phiên tòa, bà A trình bày: Vào ngày 10/6/2020 bà Nguyễn Thị Hồng B có vay của bà 150.000.000 đồng mua gà giống và thức ăn gia cầm để chăn nuôi. Khi vay tiền có làm biên nhận nợ có chữ viết, chữ ký của bà B với nội dung khi nào thu hoạch gà sẽ trả tiền. Tuy nhiên đến nay bà B vẫn chưa trả cho bà được khoản tiền nào. Bà A vẫn yêu cầu bà B trả cho bà số tiền đã vay 150.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Hồng B thừa nhận còn nợ bà Võ Thị A số tiền 150.000.000 đồng, tuy nhiên hoàn cảnh gia đình đang gặp nhiều khó khăn nên không có khả năng thanh toán nợ.

Khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp khác hoặc luật có quy định khác”.

Xét thấy, bà Nguyễn Thị Hồng B đã nhận đủ số tiền vay, có lập biên nhận nhận tiền nhưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận mặc dù bà A đã nhiều lần nhắc nhở; việc bà B không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng về việc thanh toán tiền nợ gốc cho bà Võ Thị A là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận theo nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị A, buộc bà Nguyễn Thị Hồng B phải trả số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng.

Việc bà A không yêu cầu tính lãi phát sinh là đã có lợi cho bà B.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng B đã có đơn xin miễn án phí và có đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Hồng B trả cho bà Võ Thị A số tiền 150.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

-Áp dụng Điều 463, khoản 5 Điều 466, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

-Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị A. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng B trả cho bà Võ Thị A số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà Võ Thị A có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Hồng B chậm trả tiền thì bà B còn phải trả lãi theo lãi suất được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2.Án phí: -Bà Nguyễn Thị Hồng B được miễn án phí.

-Bà Võ Thị A được hoàn lại 3.750.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0004708 ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ