- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:203/2018/HSST Ngày 29/11/2018 |
NHÂN DAH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuyến
Ông Vƣơng Hữu Trƣởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang – Thẩm tra viên TAND huyệ n Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Ông Chu Đức Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 211/2018/TLST-HS ngày 15/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2018/QĐXXST-HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức A, sinh năm 1993
HKTT: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12
Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Nguyễn Đức L và con bà Lại Thị N
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Bản án số 20/2013/HSST ngày 16/4/2013, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 11/8/2013.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến ngày 23/11/2018 bị bắt tạm giam theo quyế t đị nh bắ t tạ m giam số 05 ngày 21/11/2018 của T AD huyệ n Tiên Du tỉ nh Bắ c Ninh . Hiện tạm giam tạ i nhà tạ m giữ Công A huyệ n Tiên Du – Có mặt
*Bị hại: Ah Nguyễn Tiến H, sinh năm 1982 (vắ ng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 28/6/2018 tại thôn T, xã T, lợi dụng sơ hở nhà anh Nguyễn Tiến H không có ai nên Nguyễn Đức A đã chiếm đoạt chiếc xe máy Honda SH 125i mầu đen, BKS: 99C1-243.09. Sau đó A điều khiển xe máy mAg xe đến nhà anh Trần Văn Hậu để lại xe làm tin vay được số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 10/7/2018, anh H đã làm đơn trình báo về việc mất chiếc xe máy trên. Sau khi nhận được đơn trình báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã triệu tập A lên trụ sở để làm việc, tại Cơ quan điều tra A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngày 12/7/2018, được cơ quan điều tra thông báo, anh Hậu đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô SH 125i mầu đen, BKS: 99C1 – 243.09 và 01 giấy vay tiền do A viết để phục vụ điều tra. Tại biên bản định giá ngày 13/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i mầu đen, BKS: 99C1 – 243.09, tài sản đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 52.500.000 đồng”.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 160/CTr - VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận: Bị cáo và anh H có quan hệ họ hàng. Sáng ngày 28/6/2018, anh H nhờ bị cáo đi sang nhà cậu T ở thôn C để lấy xe ô tô. anh H điều khiển xe máy Honda SH 125i chở bị cáo sang nhà cậu T. Đến nơi, Anh H nhờ bị cáo đi xe máy về nhà. Bị cáo đồng ý rồi điều khiển chiếc xe máy đi về nhà anh H cất xe ở phòng khách. Lát sau anh H về nhà thấy bị cáo đã trả xe. Do có việc nên một lúc sau anh H điều khiển xe ô tô đi khỏi nhà. Lúc này, tại tầng một nhà anh H không có ai nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy. Thực hiện ý định trên bị cáo lấy chìa khóa xe rồi nổ máy điều khiển xe máy Honda SH đến nhà anh H1 đặt vấn đề vay anh H1 số tiền 20.000.000 đồng và để lại chiếc xe làm tin. Bị cáo nói là xe của mình, anh H1 tin tưởng cho vay 20.000.000 đồng và viết giấy biên nhận cho anh H1. Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là sai. Trước đây bị cáo có yêu cầu định giá lại chiếc xe máy Honda SH 125 nhưng hiện nay bị cáo nhận thức kết quả như trên là đúng nên không yêu cầu gì.
Bị hại là anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng xin xét xử vắng mặt. Lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 18/8/2018 cơ quan Công an đã trả lại anh chiếc xe máy Honda SH 125i mầu đen, BKS: 99C1-243.09. Vì vậy anh không có yêu cầu gì và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 160/CT- VKS ngày 12/11/2018. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b+s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 28 tháng đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không đề cập giải quyết
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội , không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sáng ngày 28/6/2018 tại thôn T, xã T, huyện T, bị cáo A đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy Honda SH 125i mầu đen, BKS: 99C1-243.09 trị giá 52.500.000 đồng của anh H. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do giá trị tài sản chiếm đoạt trên 50.000.000 đồng nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị A tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Ngày 16/4/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính đến nay không coi là tiền án nhưng cần đánh giá nhân thân bị cáo khi lượng hình. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo tự nguyện bồ i thườ ng cho anh H1 20.000.000 đồng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích nhận định như trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo A được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tuy nhiên trước đó đã bị Tòa án cấp có thẩm quyền xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời giA mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H đã nhận lại chiếc xe máy Honda SH 125i mầu đen, BKS: 99C1-243.09 và anh H1 đã nhận số tiền 20.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trong vụ án, anh H1 đã có hành vi nhận chiếc xe Honda SH 125i, BKS: 99C1 – 243.09 làm tin để cho bị cáo vay tiền. Quá trình điều tra xác định anh H1 không biết là tài sản do A trộm cắp được nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 135, Điều 136; điề u 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2018.
Quyế t đị nh tạ m giam bị cá o Nguyễ n Đứ c A 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩ m để đả m bả o thi hà nh á n.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án./.
| Nơi nhận; - TAD tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công A huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thiên Hà |