- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị T, phạm tội: Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị T phạm tội: Hủy hoại tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2018/HSST Ngày: 27-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp;
Ông Lường Văn Pọm
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 205/2018/HSST ngày 13-11- 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2018/QĐXXST-HS, ngày 15-11-2018 đối với bị cáo:
Lƣờng Thị T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1987; tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lường Văn L, sinh năm 1960 và bà Lường Thị D, sinh năm 1960; bị cáo có chồng Lường Văn S, sinh năm 1982 và 03 con, lớn nhất 13 tuổi, nhỏ nhất 6 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo tại ngoại cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*) Ngƣời phiên dịch cho bị cáo Lƣờng Thị T:
Anh Lò Văn I;
Địa chỉ: Bản N, xã CP, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ( Có mặt).
*) Bị hại: Anh Lƣờng Văn T;
Địa chỉ: Bản P, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. ( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian từ ngày 14-7-2018 đến ngày 17-7-2018, tại khu vực nương ngô của gia đình chị Lường Thị T ở bản C, xã TM, huyện Thuận Châu , tỉnh Sơn La thường xuyên có gia súc ( trâu,bò…) vào phá hoại. Do bực tức, vì ngô sắp đến ngày thu hoạch lại bị trâu bò phá hoại nên đến khoảng 5 giờ sáng ngày 18-7-2018, Lường Thị T dùng 01 ( một) chiếc bát sứ xúc phân đạm urê trắng 0,5 kg trong bao phân đạm cho vào 01 túi nilon màu trắng, đồng thời cầm theo 01 chiếc nạo sẵn cho vào 01 túi đeo bằng vỏ bao phân đạm NPK, rồi đi bộ lên nương. Tại nương ngô nhà mình, T đào lấy 04 củ sắn tươi, bóc vỏ, rồi dùng chiếc nạo sắn mang theo nạo sắn thành những sợi nhỏ và trộn đều với phân đạm URÊ. Tiếp đó, T bốc hỗn hợp sắn nạo với phân đạm URÊ chia thành 04 phần đặt ở 04 vị trí khác nhau, mỗi vị trí cách nhau khoảng 05 mét ở khu vực đầu nương, phía trên dốc nơi có dấu chân trâu bò vào phá hoại ngô. Khi đặt hỗn hợp sắn nạo với phân đạm xong Thoan đi bộ về nhà và đi làm ruộng lúa ở khu vực bản P, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày sau khi ăn cơm trưa xong, T gọi điện cho anh Lường Văn T, trú tại:Bản P, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thông báo về việc đặt sắn trộn với phân đạm trên nương và đề nghị nhốt bò lại. Khoảng 16 gời cùng ngày, làm ruộng xong T cùng chồng đi về nhà thì được biết có 03 con bò của anh T chết tại nương của gia đình T trong trạng thái bụng trương, mép sùi bọt trắng. Sau đó, Lường Thi T đã trình báo với công an xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và báo cho gia đình anh T biết.
Tại Công an huyện Thuận châu, tỉnh Sơn La Lường Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Sau khi xảy ra vụ việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tiến hành điều tra, xác định khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường, chụp ảnh hiện trường tại khu vực nương ngô của gia đình Lường Thị T.
Ngày 18-7-2018 Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã quyết định trưng cầu giám định đốc chất gửi Viện pháp y Quốc gia các mẫu gửi giám định là mẫu sắn nạo thu ở 4 vị trí tại hiện trường ký hiệu: A1, A2, A3, A4; 03 mẫu chất trong dạ dày bò ký hiệu: A5, A6, A7; mẫu chất rắn dạng hạt màu trắng thu tại nhà Lường Thị T ký hiệu M1; 01 chiếc bát sứ màu trắng có dính bám hỗn hợp màu nâu thu tại nhà Lường Thị T ký hiệu M2.
Tại bản Kết luận số: 248/237/282-283/18/HP, ngày 26-7-2018 của Viện pháp y Quốc gia kết luận:
“ - Trong các mẫu chất trong dạ dày bò A5, A6, A7 và mẫu tang vật A1, A2, A3, A4, M1 và M2 vụ nghi đầu độc 03 con bò của anh Lường Văn T; sinh năm 1970 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La gửi giám định ngày 19-7-2018 có tìm thấy Urê và không tìm thấy chất độc khác nêu trên.
Urê là một loại phân đạm. Trong nông nghiệp, urê được sử dugj làm phân bón cung cấp dưỡng chất cho cây trồng. Việc ăn urê quá mức có thể gây ra ngộ độc cấp tính, diễn biến nhanh và gây tử vong cao. Khi ăn vào urê bị thủy phân và giải phóng amoniac vào đường tiêu hóa. Amoniac hấp thụ vào trong máu và gây ra ngộ độc. Khi ngộ độc urê, dấu hiệu ban đầu là run cơ, phù mắt, đau bụng, tiết nước bọt nhiều, khó thở và nghiến răng. Sau đó, niêm mạc tím tái, long đờm, sốt cao và chết.
Về phần trách nhiệm bồi thƣờng dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, Lường Thị T đã chủ động tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại tài sản cho gia đình anh Lường Văn T với số tiền là 16.000.000đ ( đã bồi thường xong). Do bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu đề nghị gì thêm nên vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
Bản cáo trạng số: 173/CT-VKS, ngày 12-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lường Thị T về tội : Hủy hoại tài sản, theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về điều khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lường Thị T phạm tội: Hủy hoại tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lường Thị T từ 12 đến 16 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo . Thờ i gian thử thá ch từ 24 đến 32 tháng. Thời hạn thử thách tình từ ngày tuyên án sơ thẩm ( là ngày 27-11-2018).
Giao bị cáo Lường Thị T cho UBND nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lường Thị T.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 ( môt) túi nilon màu trắng bên trong có sắn tươi nạo nhỏ và lá cây màu xanh; 01 chiếc nạo sắn dài 35 cm, rộng 14,5 cm, khung làm bằng gỗ, phần lưới nạo bằng kim loại có kích thước 24 cm x 12,5 cm; 01 túi màu xanh bên trong có chứa chất 01 kg dạng hạt màu trắng; 01 túi đeo đi nương làm từ bao bì phân NPK đã qua sử dụng và 01 chiếc bát sứ màu trắng có bám hỗn hợp màu nâu.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị hại Lường Văn Tiện và bị cáo Lường Thị T như sau: Bị cáo Lường Thị Tn tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Lường Văn T số tiền thiệt hại là 16.000.000đ. Bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do vậy vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Lường Thị T: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất trong khung hình phạt và xin được hưởng án treo. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Ngày 8-7-2018, Lường Thị T; trú tại: Bản C, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La do có gia súc phá hoại nương ngô của nhà mình nên đã có hành vi dùng phân đạm Urê trộn lẫn với sắn nạo đặt ở trên nương nhằm gây ngộ độc cho gia súc vào phá hoại nương ngô của gia đình mình. Hậu quả làm chết 03 con bò có tổng trọng lượng là 370kg. Qua định giá giá trị thiệt hại là 37.000.000đ của gia đình anh Lường Văn T.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Lường Thị Tn phạm tội: Hủy hoại tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Như quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1, khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.0000đ đến 100.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lường Thị T cố ý hủy hoại tài sản của người khác với giá trị tài sản không lớn, mục đích hủy hoại tài sản của người khác để bảo vệ tài sản cá nhân. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Cần vận dụng khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự, có mức án phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với bị cáo Lường Thị T.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lường Thị T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bản thân bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thực pháp luật còn hạn chế, bị cáo thuộc diện gia đình liệt sỹ có công với cách mạng. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện đến Cơ quan chúc năng để trình báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương của bị cáo Lường Thị T. Và lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo tại phiên tòa đề nghị xin được hưởng mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Nay Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lường Thị T có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận là có nhân thân tốt, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do vậy có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên cần được chấp nhận. Không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của bị cáo phối hợp với gia đình có trách nhiệm giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Vận dụng khoản 1, khoản 2, khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật giáo dục và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện chính sách pháp luật nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta, giúp cho bị cáo được trở lại cộng đồng.
Bị cáo Lường Thị T đang tại ngoại, thời gian thi hành án phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Lường Thị T còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 178 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, sống phụ thuộc vào nương rẫy do vậy không có khả năng thi hành, cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Lường Thị T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại anh Lường Văn T tổng số tiền là 16.000.000đ ( đã bồi thường xong). Xét sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo là tự nguyện không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận. Nay bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu đề nghị gì thêm nên vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
. Về vật chứng: Đối với 01 ( môt) túi nilon màu trắng bên trong có sắn tươi nạo nhỏ và lá cây màu xanh; 01 chiếc nạo sắn dài 35 cm, rộng 14,5 cm, khung làm bằng gỗ, phần lưới nạo bằng kim loại có kích thước 24 cm x 12,5 cm; 01 túi màu xanh bên trong có chứa chất 01 kg dạng hạt màu trắng; 01 túi đeo đi nương làm từ bao bì phân NPK đã qua sử dụng và 01 chiếc bát sứ màu trắng có bám hỗn hợp màu nâu là công cụ, phương tiện bị cáo Lường Thị T dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Vận dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Gia đình bị cáo Lường Thị T có giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2018. Do vậy cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Vận dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lường Thị T, bị hại anh Lường Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị T phạm tội: Hủy hoại tài sản.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lường Thị T 14 ( mười bốn) tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch là 28 ( hai mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tình từ ngày tuyên án sơ thẩm ( là ngày 27-11-2018).
Giao bị cáo Lường Thị Thoan cho UBND xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- Một túi nilon màu trắng bên trong có chứa sắn tươi nạo nhỏ và lá cây màu xanh;
- Một chiếc bàn nạo sắn dài 35 cm, rộng 14,5 cm, khung làm bằng gỗ, phần lưới nạo bằng kim loại, có kích thước 24 cm x 12,5 cm;
- Một túi màu xanh bên trong có chứa 01 kg chất rắn dạng hạt trắng;
- Một túi đeo đi nương làm từ bao bì phân NPK đã qua sử dụng.
- Một 01 chiếc bát sứ màu trắng có bám dính hỗn hợp dạng màu nâu, đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Thị T.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lường Thị T, bị hại anh Lường Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND ( 02 ); - Sở tư pháp tỉnh; - CA huyện; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Trại giam; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - UBND xã; - Lưu Hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lƣờng Thị Hƣơng |