vanban.org

Bản án 203/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 28/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/8/2018 đến ngày 20/8/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung Kiên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203 /2018/HS-ST
Ngày: 28/12/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Anh

Ông Nguyễn Văn Lịch

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Tây Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2018/TL ST - HS ngày 13 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

217/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Trung K - sinh năm 1983; HKTT và chỗ ở: Số 68 A, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Tr×nh ®é văn hóa: 12/12 ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Kh, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1947; Vợ: Bùi Thị H (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2011;Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 314 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 20/10/2018 và lý lịch do địa phương cung cấp thể hiện bị cáo có 01 tiền án:

Bản án số 180/2016/HSST ngày 01/7/2016 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã nộp án phí hình sự, ra tù ngày 12/10/2017, tiền án này chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt từ ngày 11/8/2018 đến ngày 20/8/2018, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h00 ngày 11.08.2018, Trần Trung K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 30L1 – 1345 đi từ nhà tại số 68 A, quận Ba Đình đến khu vực cửa khẩu An Dương thuộc địa bàn phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Tại đây, K mua của người đàn ông ( K không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể) 02 (Hai) túi nilon bên trong chứa ma túy Heroine với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và 01 (Một) túi nilon chứa ma túy “đá” với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). K cất 01 túi nilon vào túi quần phía trước bên phải, 01 túi nilon vào túi quần phía trước bên trái và 01 túi nilon vào túi quần phía sau bên trái rồi điều khiển xe máy đi theo hướng đường Thanh Niên. Khi K đi đến khu vực ngã tư Thanh Niên – Thụy Khuê, quận Tây Hồ thì tổ công tác 141 Công an thành phố Hà Nội yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Do K không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên K đã tự giao nộp 03 túi nilon và khai là ma túy mua về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản và đưa K về trụ sở công an phường Thụy Khuê để làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Trần Trung K gồm:

- 01 (Một) túi nilon trong chứa tinh thể màu trắng; 02 (Hai) túi nilon trong chứa chất bột màu trắng; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 30L1 - 1345; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, Imei 354272066648517;01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, Imei: 355034001284710.

Tại bản kết luận số 6636 ngày 19.08.2018 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận :

“- Chất bột màu trắng bên trong hai túi nilon là ma túy Heroine, tổng khối lượng 0,245 gam;

- Tinh thể màu trắng bên trong một túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,196 gam” .

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Trung K, K khai không biết tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ không xác minh được đối tượng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX Biển kiểm soát 30L1 – 1345, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ đã tiến hành xác minh và xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký là ông Trần Văn Kh (Sinh năm 1948 – HKTT Số 68 A, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) là bố đẻ của Trần Trung K. Ông Khơi khai cho K mượn xe máy để đi lại, không biết việc K sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho ông Khơi. Ông Khơi đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, Imei 354272066648517 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, Imei : 355034001284710. K khai để sử dụng liên lạc với gia đình, không sử dụng vào việc mua bán ma túy, K khai là tài sản cá nhân.

Bản cáo trạng số 210/CT - VKSTH ngày 28 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Trần Trung K về tội : “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo đúng nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Trung K đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về hình phạt đề nghị xử phạt Trần Trung K từ tháng đến tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng

Về vật chứng: + Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng Trần Trung K và giám định viên, có dấu của CQĐT.

Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, Imei 354272066648517;01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, Imei: 355034001284710.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo K tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trần Trung K có hành vi tàng trữ 0,245 gam ma túy loại Heroine và 0,196 gam ma túy loại Methamphetamine , mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Trần Trung K đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng trọng lương ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,441 gam. Do đó, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Tây Hồ, thành phố Hà Néi đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Trần Trung K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội .

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ.

Xét nhân thân của bị cáo có 01 tiền án do Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra tù ngày 12/10/2017, tiền án này chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều này thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Xét hành vi và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra, với tổng trọng lượng ma túy 0,441 gam gồm ma túy loại Heroine và Methamphetamine, thấy cần áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 .

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về hình phạt bổ sung như hình phạt tiền phạt tiền: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và không có thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ 01 bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng Trần Trung K và giám định viên, có dấu của CQĐT, đây là vật chứng của vụ án nên cho tịch thu, tiêu hủy.

Trả lại bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, Imei 354272066648517;01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, Imei: 355034001284710 vì không liên quan đến tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/8/2018 đến ngày 20/8/2018.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015

+Cho tịch thu tiêu hủy : 01 bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng Trần Trung K và giám định viên, có dấu của CQĐT

+ Trả lại bị cáo Trần Trung K 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, Imei 354272066648517;01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, Imei: 355034001284710.

(Tang vật trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2018)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Trung K phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ