- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 203/2018/HS-ST Ngày: 10/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Cúc
2/ Bà Trần Thị Thọ
- Thƣ ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thảo - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 10/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 199/2018/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 198/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: VŨ VĂN T – sinh năm:1991; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT: Xóm 2 Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 04/12; Con ông: Phạm Văn D; Con bà: Vũ Thị G;Tiền án, tiền sự: 01 tiền án Ngày 27/7/2011, TAND quận Long Biên xử 07 năm tù về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Chống ngƣời thi hành công vụ ( ra trại ngày 10/2/2017 ), chƣa xóa án tích; Nhân thân: 01 tiền án đã xóa Ngày 23/4/2007, TAND quận Ba Đình xử 04 năm tù về tội Cƣớp tài sản ( phạm tội khi 15 tuổi 02 tháng 09 ngày) và 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2006;. Danh chỉ bản số 0208 lập ngày 23/4/2018 do công an Quận Hai Bà Trƣng cung cấp; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 19/4/2018.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
*Người bị hại: Ông Phan Hùng T – sinh năm: 1950; Trú tại: Số 25 LT, phƣờng T, quận HBT, Hà Nội
( vắng mặt tại phiên tòa )
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Nguyễn Văn T – sinh năm: 1987; Trú tại: 440 VH, P.VH, quận H, Hà Nội
( xin vắng mặt tại phiên tòa)
2. Công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng Việt Á; Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc H – Giám đốc - ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T – cán bộ công ty ( văn bản ủy quyền ngày 09/5/2018 )
( xin vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 9 giờ ngày 18/4/2018, đối tƣợng C ( tên gọi khác là C ) đi xe máy đến đón Vũ Văn T đi lòng vòng xem có ai sơ hở sẽ trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền mua ma túy đá về sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đến phố Thanh Nhàn, Hai Bà Trƣng, Hà Nội, C phát hiện 01 xe máy Honda Dream, màu nâu BKS: 29B1-28395 của ông Phan Hùng T đang cắm chìa khóa và nổ máy dƣới lòng đƣờng trƣớc cửa số nhà 235 phố Thanh Nhàn, C chỉ cho T và bảo :” Có con xe máy để không kìa, có cả chìa khóa, lấy đi anh”. T xuống xe đi bộ về phía chiếc xe, quan sát thấy không ngƣời trông giữ, T lén lút dắt chiếc xe máy lên xe và nổ máy phóng đi về phía phố Kim Ngƣu. Ông T đang mua hàng quay ra phát hiện bị mất xe đã đuổi theo và hô hoán. Lúc đó, anh Trần Đức A đang điều khiển xe máy chở anh Nguyễn Ngọc A đi trên đƣờng liền phóng xe đuổi theo T đến khu vực ngã tƣ ngách 295 ngõ Quỳnh, T bị ngã do mất tay lái. T bỏ lại xe máy và chạy vào bãi xe gần đó rồi trèo tƣờng ra ngoài theo hƣớng phố Hồng Mai. Đến trƣớc cửa số nhà 200 phố Hồng Mai, Quỳnh Lôi, Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì bị tổ công tác công an phƣờng Quỳnh Lôi bắt giữ. Khi thấy T chạy vào bãi xe và trèo tƣờng chạy ra phía ngoài thì anh Đức A và Ngọc A không đuổi theo nữa, đã mang chiếc xe bị lấy trộm về giao nộp công an phƣờng Thanh Nhàn. C đã bỏ đi khi T bị phát hiện lấy trộm xe.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hai Bà Trƣng đã ra quyết định trƣng cầu định giá đối với chiếc xe máy Vũ Văn T trộm cắp.Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐ ĐGTS ngày 15/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trƣng kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu BKS: 29B1-28395; SK: AY310643; SM: 1610517 trị giá 14.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra Vũ Văn T khai nhận hành vi phạm tội nhƣ trên.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream, màu nâu BKS: 29B1- 28395; SK: AY310643; SM: 1610517, qua tra cứu không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe máy trên là công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng Việt Á đã ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T ngƣời quản lý và sử dụng hợp pháp. Ngày 18/4/2018 anh T cho ông T mƣợn xe để đi mua đồ. Ngày 28/5/2018, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định trao trả chiếc xe trên cho anh Trung. Sau khi nhận đƣợc tài sản, ông T và anh T không còn có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với đối tƣợng C ( tức C ) do T quen biết ngoài xã hội, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 01648954848 C sử dụng, quá trình xác minh chƣa có kết quả nên cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến đối tƣợng C để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Tại cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 04/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: khoảng 11 giờ ngày 18/4/2018, tại khu vực trƣớc cửa số nhà 235 phố Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Vũ Văn T có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29B1 – 28395 của ông Phan Hùng T trị giá 14.500.000 đồng. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 173 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Vũ Văn T với mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
Tài sản đã thu hồi trao trả cho anh T là ngƣời quản lý sử dụng hợp pháp, anh T không có ý kiến gì nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trƣng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Đƣợc chứng minh bằng tang vật vụ án thu đƣợc là chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 29B1-28395, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 11 giờ ngày 18/4/2018, tại khu vực trƣớc cửa số nhà 235 phố Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, phát hiện ra chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 29B1-28395 đang dựng dƣới lòng đƣờng sát vỉa hè, lợi dụng sơ hở của ngƣời bị hại vẫn để xe nổ máy Vũ Văn T đã lén lút dắt chiếc xe máy đi một đoạn khoảng nửa mét rồi ngồi lên xe định tẩu thoát thì bị phát hiện, bị cáo vẫn tiếp tục tăng ga bỏ chạy. Ngay sau đó có hai thanh niên đi đƣờng kịp đuổi theo T đến số 295 ngõ Quỳnh thì bị cáo bị ngã xe và bị hai thanh niên đuổi theo cùng ngƣời dân bắt, T tiếp tục bỏ chạy đến phố Hồng Mai thì bị tổ công tác công an phƣờng Quỳnh Lôi bắt giữ. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 41/KL-HĐ ĐGTS, ngày 15/5/2015 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trƣng kết luận định giá chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 29B1-28395, số khung: AY310643, số máy: 1610517 trị giá 14.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Vũ Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền án ngày 27/7/2011 TAND quận Long Biên xử 07 năm tù về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy và chống ngƣời thi hành công vụ, chƣa đƣợc xóa.
- Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã đƣợc xóa, 01 tiền sự đã hết thời hiệu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lƣợng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tƣơng xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm. Ngoài ra, ngày 25/7/2018 bị cáo bị TAND quận Tây Hồ xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
+ Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình. Đây là tình tiết để giảm nhẹ, cần áp dụng Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Trộm cắp tài sản của bị cáo Vũ Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.
Về biện pháp tƣ pháp: cần áp dụng Điều 47 khoản 2 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 3 điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Đối với tang vật của vụ án là chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 29B1-28395, số khung: AY310643, số máy: 1610517. Qua kết quả tra cứu vật chứng ngày 18/4/2018 chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Nguyễn Văn T là ngƣời quản lý hợp pháp chiếc xe máy nói trên. Anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 173 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Vũ Văn T 20 ( hai mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2018.
- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| NƠI NHẬN : - Bị cáo - Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng - Công an Quận Hai Bà Trƣng - Chi cục THA dân sự Q. Hai Bà Trƣng - Lƣu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Nguyệt Ánh |