vanban.org

Bản án 203/2018/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

số 29/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản” 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? số 29/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2018/HS-PT
Ngày: 13/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

DÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử

thẩm gồm có:

Thẩm ph n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự;

Các Thẩm phán: Ông Lê Phước Thanh;

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 250/2018/TLPT-HS ngày 09/7/2018

L Văn U

kháng cáo

L

số 29/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

1. Bị cáo có kháng cáo:

Lê Tấn L (tên gọi khác: không), sinh ngày 28/08/1993 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: xã H, huyện H, thành phố Đà N ng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tấn H (sinh năm 1955) và bà Đoàn Thị M (sinh năm 1962); có vợ Phạm Thị Mỹ V (sinh năm 1996) và 02 con sinh năm 2014 và 2017; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2018, hiện đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2. Người bào chữa:

Ông Quốc C - Công ty TNHH MTV H và Cộng sự bào chữa cho bị cáo Lê Tấn L theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tóm tắt nội dung vụ án:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và

tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH chuyển phát nhanh L1 Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty L1) thuê 01 kho hàng trong khuôn viên nhà kho của Công ty CP B tại quận L2, thành phố Đà Nẵng làm văn phòng đại diện.

Khoảng ngày 20.12.2017, Nguyễn Văn U gặp Lê Tấn L, khi biết L từng làm bảo vệ tại Kho hàng Công ty L1 một thời gian, nắm rõ nơi cất tiền, U cùng L bàn bạc cùng nhau chuẩn bị công cụ phương tiện đột nhập kho hàng trộm két sắt của Công ty. Sau khi bàn bạc thống nhất, U sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Wave (không rõ biển kiểm soát) chở L đến Công ty L1 để L chỉ địa điểm đột nhập vào kho hàng là khu đất trống cạnh bờ tường phía sau kho hàng. Sau đó, Khoảng 02h00’ ngày 21.12.2017, U điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave đón L tại quán cà phê của L mở tại quận C, TP. Đà Nằng. Trên đường đi, U ghé về phòng trọ của U tại đường N (TP Đà Nẵng) lấy công cụ phá khoá đã chuẩn bị sẵn rồi tiếp tục đến phòng trọ của bà Trịnh Thị Thu H (mẹ U) tại số 54 Đ, TP. Đà Nẵng lấy thêm 01 cái chăn. Khi đến khu đất trống đã chọn nói trên, U mang xe mô tô đi giấu rồi cả hai đeo bao tay, đội mũ len trùm mặt, trèo lên tường rào đi vào bên trong khuôn viên các kho hàng của Công ty CP B. L dẫn U đi theo đường luồng phía sau kho hàng, đến vị trí thang lồng trèo lên mái kho hàng. Khi ở trên mái nhà kho, L chỉ cho U trèo theo đường lỗ thông gió xuống phía dưới kho hàng của Công ty X (kho hàng Công ty X thuê bên cạnh kho hàng Công ty L1), còn L leo xuống đứng chờ bên ngoài cửa phụ kho hàng. Sau khi vào bên trong kho hàng Công ty X, U dùng thanh sắt phá khóa mở cửa phụ cho L vào bên trong. L dẫn U đến vị trí vách tôn ngăn cách giữa kho hàng của Công ty X và Công ty L1, dùng điện thoại soi sáng chỉ chỗ để U dùng kéo cắt tôn còn mình ra ngoài phía cửa kho cảnh giới. Sau khi cắt miếng tôn tạo khoảng trống 0,72m x 0,5m, U chui vào bên trong dùng tấm chăn mang theo bọc két sắt bên trong có số tiền 572.475.000 đồng của Công ty L1 để kéo qua lỗ tôn bị cắt để đưa ra ngoài vách ngăn. Cả hai vác két sắt ra đến khu vực đất trống dùng búa, đục phá két lấy tiền cho vào bao tải, vứt bỏ công cụ phá khoá và vỏ két sắt rồi về lại quán café của L để chia tiền, U và L không kiểm đếm tiền mà chia theo từng mệnh giá, mỗi loại chia thành 2 chồng bằng nhau, mỗi người 1 chồng.

Sau khi chia xong, U nói xe Wave dùng làm phương tiện đi trộm phải vất bỏ nên L đưa cho U thêm 4.000.000 đồng để mua xe mới. Chiếc xe Wave nói trên, U mang đến khu vực biển đường N, phường H, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng vất bỏ. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng không thu hồi được.

Số tiền được chia, L khai dùng 170.000.000 đồng để trả nợ và tiêu xài cá nhân, còn lại 44.298.000 đồng cất giấu trong nhà, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét và thu giữ. U sử dụng tiền mua 01 xe mô tô hiệu Exciter BKS 92E1-38037 (mua lại của anh Lê H - trú tỉnh Quảng Nam) hết 23.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân; còn lại 7.400.000 đồng đưa cho bạn gái là Trịnh Ngọc Hoạ M cất giữ. Sau khi U bị bắt, chị M đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô hiệu Exciter BKS 92E1-3 8037 và 7.400.000 đồng.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn L phạm tội” Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 3 Điều 7; đi m a khoản 4 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Tấn L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/01/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; buộc các bị cáo Nguyễn Văn U và Lê Tấn L phải liên đới phải bồi thường cho Công ty TNHH chuyển phát nhanh L Việt Nam số tiền là 500.777.000 đồng (Năm trăm triệu, bảy trăm bảy mươi bảy ngàn đồng); chia phần bị cáo Lê Tấn L phải bồi thường số tiền là 221.939.500 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu, chín trăm ba mươi chín ngàn, năm trăm đồng);

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng.

3. Kháng cáo:

Ngày 05/6/2018 bị cáo Lê Tấn L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, với nội dung

Tòa phúc thẩm xem xét

nhẹ hình phạt.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm

Viện kiể

khoản 3 Điề khoản 4 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015

L

pháp luật.

,

không

.

b

L

bồi thường thiệt hại cho

nhưng không

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

trong

: [1]

L

; do

: Khoảng 02h00’ ngày 21.12.2017, L U

01 cái chăn. Khi đến khu đất trống đã chọn, U mang xe mô tô đi giấu rồi cả hai đeo bao tay, đội mũ len trùm mặt, trèo lên tường rào đi vào bên trong khuôn viên các kho hàng của Công ty CP B. L dẫn U đi theo đường luồng phía sau kho hàng, đến vị trí thang lồng trèo lên mái kho hàng. Khi ở trên mái nhà kho, L chỉ cho U trèo theo đường lỗ thông gió xuống phía dưới kho hàng của Công ty X (kho hàng Công ty X thuê bên cạnh kho hàng Công ty L1), còn L leo xuống đứng chờ bên ngoài cửa phụ kho hàng. Sau khi vào bên trong kho hàng Công ty X, U dùng thanh sắt phá khóa mở cửa phụ cho L vào bên trong. L dẫn U đến vị trí vách tôn ngăn cách giữa kho hàng của Công ty X và Công ty L1, dùng điện thoại soi sáng chỉ chỗ để U dùng kéo cắt tôn còn mình ra ngoài phía cửa kho cảnh giới. Sau khi cắt miếng tôn tạo khoảng trống 0,72m x 0,5m, U chui vào bên trong dùng tấm chăn mang theo bọc két sắt bên trong có số tiền 572.475.000 đồng của Công ty L1 để kéo qua lỗ tôn bị cắt để đưa ra ngoài vách ngăn. Cả hai vác két sắt ra đến khu vực đất trống dùng búa, đục phá két lấy tiền cho vào bao tải, vứt bỏ công cụ phá khoá và vỏ két sắt rồi về lại quán café của L để chia tiền.

c

phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo

khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như [2] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân; bị cáo

chiếm đoạt tài sản có giá trị 572.475.000 đồng. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc mới đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung như bản án sơ thẩm đã áp dụng là có căn cứ. [3]

kháng cáo

giảm nhẹ hình phạt

, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng

các tình tiết giảm nhẹ

. L

bồi thường cho

nhưng không c

. Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo

; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. [4]

q

. [5]

L

QUYẾT ĐỊNH

L;

số 29/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Tấn L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/01/2018.

q

.

Lê Tấn L

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ