vanban.org

Bản án 203/2018/HCPT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 30/05/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của ông Lưu Văn N.

Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2017/HCST ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Án phí: Ông Lưu Văn N phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm được trừ vào khoản tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AB/2015/0009543… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lưu Văn N"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Lưu Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định về đăng ký đ…; Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2018/HC-PT
Ngày 30/5/2018
V/v khởi kiện quyết định hành chính
về quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Mạnh Hùng;

Ông Phùng Hải Hiệp.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Hoàng Thị Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 02/2018/TLPT-HC ngày 05 tháng 01 năm 2018 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2017/HCST ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo của người khởi kiện là Lưu Văn N.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2985/2018/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2018 giữa:

1. Người khởi kiện: Ông Lưu Văn N, sinh năm 1946. Nơi cư trú: Số nhà B129 Khu tập thể cơ khí L Ninh (Coma 7), xã L Ninh, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội, có mặt.

2. Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến C, chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Tiến C có đơn xin vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch & Ủy ban nhân dân huyện Thanh Tr (những người bị kiện): Ông Trịnh Công S, chuyên viên Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội, (có mặt tại phiên tòa).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Thanh B, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Khu tập thể nhà máy cơ khí L Ninh (Coma 7), xã L Ninh, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền là ông Lưu Văn N (Người khởi kiện trong vụ án).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989 của Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh thì ông Lưu Văn N được phân phối 1 gian nhà cấp bốn tại gian số 3, dãy B11 thuộc khu tập thể của Nhà máy với diện tích 30 m2, không có bếp và cho phép mở rộng đất liền kề 6 m (diện tích 42,6 m2).

Ngay sau khi được phân phối nhà tập thể, ông Lưu Văn N đã cải tạo, tự cơi nới 58 m2 ra phần đất liền kề thuộc quản lý của Nhà máy, nâng tổng diện tích đất sử dụng là 130,6 m2.

Năm 1993, ông Lưu Văn N được Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh thanh lý gian nhà cấp bốn theo Quyết định số 299/TCHC ngày 04-11-1993.

Ngày 04-11-2015, ông Lưu Văn N nộp đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân (UBND) xã Ngọc Hồi đã lập và gửi hồ sơ để Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Thanh Tr thẩm định. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan tham mưu, UBND huyện Thanh Tr đã ban hành Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 về việc công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu Văn N và vợ là bà Lê Thị Thanh B thửa đất số 3-81 tờ bản đồ trích đo với diện tích 130,6 m2; đồng thời xác định nghĩa vụ tài chính ông Lưu Văn N và bà Lê Thị Thanh B phải nộp 50% tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.

Ông Lưu Văn N có khiếu nại về số tiền phải nộp, UBND huyện Thanh Tr ban hành Quyết định số 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 xác định ông Lưu Văn N và bà Lê Thị Thanh B chỉ phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích 58 m2 lấn, không nằm trong diện tích đất được phân theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989 của Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh.

Ông Lưu Văn N tiếp tục khiếu nại nên Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr đã ban hành Quyết định số 8015/QĐ-UBND ngày 23-9-2016 giải quyết khiếu nại không chấp nhận khiếu nại của ông Lưu Văn N, giữ nguyên Quyết định số 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 của UBND huyện Thanh Tr.

Ngày 11-11-2016, ông Lưu Văn N khởi kiện vụ án hành chính. Ngày 22-02-2017, ông Lưu Văn N sửa đổi, bổ sung khởi kiện có nội dung, đề nghị Tòa án:

- Hủy mục 3 Điều 1 Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 của UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

- Hủy Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 của UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

- Hủy Quyết định số 8015/QĐ-UBD ngày 23-9-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

Lý do khởi kiện của ông Lưu Văn N cho rằng:

- Toàn bộ diện tích đất 130,6 m2 sử dụng trước thời điểm 15-10-1993 nên đã được luật hóa để không coi 58 m2 là đất lấn.

- UBND huyện Thanh Tr công nhận quyền sử dụng 58 m2 đất này cho vợ chồng ông Lưu Văn N là đúng nhưng xác định nghĩa vụ nộp 50 % tiền sử dụng đất là trái pháp luật.

- Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr giải quyết khiếu nại giữ nguyên nội dung xác định nghĩa vụ tài chính đối với vợ chồng ông Lưu Văn N là không đúng.

* Quan điểm của Chủ tịch & UBND huyện Thanh Tr do Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tiến C trình bày:

Xác định vợ chồng ông Lưu Văn N, bà Lê Thị Thanh B được công nhận quyền sử dụng 130,6 m2, trong đó tự sử dụng 58 m2 đất ngoài 72,6 m2 đất được Giám đốc nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh phân theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989. Tại Quyết định 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 của UBND huyện Thanh Tr xác định ông Lưu Văn N và bà Lê Thị Thanh B phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với toàn bộ 130,6 m2 là chưa phù hợp. Sau khi xác định lại cho thấy vợ chồng ông Lưu Văn N đã xây dựng nhà ở ổn định trên đất trước ngày 15-10-1993 nên chỉ phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với 58 m2 đất tự sử dụng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 18-12-2015 của UBND thành phố Hà Nội. Còn 72,6 m2 đất sử dụng có nguồn gốc được Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh phân theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989 thì vợ chồng ông Lưu Văn N không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c.2 mục c khoản 1 Điều 47 Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 18-12-2015 của UBND thành phố Hà Nội. Do đó, UBND huyện Thanh Tr ban hành Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 để điều chỉnh mục 3 Điều 1 Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn N.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2017/HCST ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn N đề nghị hủy:

- Mục 3 Điều 1 Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 của UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

- Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 của UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

- Quyết định số 8015/QĐ-UBD ngày 23-9-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, Tòa án còn quyết về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/9/2017, ông Lưu Văn N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Lưu Văn N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, những trình bày tại phiên tòa sơ thẩm và cho rằng, mặc dù gia đình ông trước đây có lấn chiếm 58m2 nhưng qua quá trình sử dụng ổn định, không có tranh chấp, nay được Nhà nước công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể coi là lấn chiếm nữa. Vì vậy không thể bắt gia đình ông phải nộp tiền sử dụng đất.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người bị kiện ông Trịnh Công S trình bày: Vợ chồng ông Lưu Văn N bà Lê Thị Thanh B đã sử dụng lấn ra ngoài phần đất được Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh phân theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989 58m2, nhưng đã sử dụng ổn định trước ngày 15-10-1993 nên đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Quyết định 37/QĐ-UBND ngày 18-12-2015 của UBND thành phố Hà Nội thì trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất lấn chiếm phải nộp 50% tiền sử dụng đất là đúng chính sách pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của ông Lưu Văn N.

Kiểm sát viên phát biểu như sau: Việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Trong diện tích 130,6m2 ông N đề nghị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thì chỉ có 72,6m2 đất là có nguồn gốc theo Quyết định phân nhà số 02/TCHC ngày 26-10-1989 của Giám đốc nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh gồm 01 nhà cấp 4 diện tích 30m2, không có bếp và công trình phụ và ông N được phép cơi nới thêm 42,6m2 để làm bếp và công trình phụ. Tại đoạn 1 tiết c.2 điểm c khoản 1 Điều 47 Quyết định số 37/QĐ-UBND thì không thu tiền sử dụng đất đối với phần trong hạn mức đất ở mới (theo mức tối đa), đối với phần diện tích vượt quá hạn mức giao đất ở mới thì phải thu bằng 50% tiền sử dụng đất. Đối với diện tích 58m2, ông N không cung cấp được nguồn gốc đất, bản thân ông N thừa nhận tự cơi nới, lấn chiếm, ông N cho rằng diện tích đất này đã được luật hóa không còn là đất lấn chiếm là không có cơ sở. Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 của UBND huyện Thanh Tr xác định vợ chồng ông Lưu Văn N phải nộp tiền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích 130m2 là không chính xác. Ông N có đơn khiếu nại, ngày 16-6-2016, Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr đã ban hành Quyết định số 4160/QĐ-UBND điều chỉnh lại mục 3 Điều 1 Quyết định số 2221/QĐ-UBND về nghĩa vụ tài chính, thì gia đình ông N chỉ phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích 58m2 khi được công nhận quyền sử dụng 58 m2 đất lấn trước 15-10-1993 là đúng quy định pháp luật và bảo đảm được quyền lợi của gia đình ông N. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bác đơn khởi kiện của ông N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính xử bác kháng cáo của ông Lưu Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự và của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 và Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 của UBND huyện Thanh Tr về việc xác định nghĩa vụ tài chính khi công nhận quyền sử dụng đất là hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực đất đai; Quyết định giải quyết khiếu nại số 8015/QĐ-UBND ngày 23-9-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 30 và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 11-11-2016, ông Lưu Văn N khởi kiện các quyết định hành chính nêu trên. Ngày 22-02-2017, ông Lưu Văn N sửa đổi, bổ sung khởi kiện là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

. Xét nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn N:

Về thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện: Chủ tịch & UBND huyện Thanh Tr ban hành các Quyết định số 2221/QĐ-UBND; Quyết định 4160/QĐ-UBND; Quyết định giải quyết khiếu nại số 8015/QĐ-UBND là đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

Vợ chồng ông Lưu Văn N sử dụng 58 m2 đất trong tổng số 130,6 m2 đất được UBND huyện Thanh Tr công nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 mà không có giấy tờ sử dụng quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ. Thời điểm vợ chồng ông Lưu Văn N, bà Lê Thị Thanh B sử dụng đất trước ngày 15-10-1993, do sau khi được Giám đốc Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh phân phối gian nhà tập thể theo Quyết định số 02/TCHC ngày 26-10-1989 với diện tích đất được phép sử dụng là 72,6 m2 nên đã xây dựng công trình lấn ra phần đất trống phía trước thuộc khu tập thể của Nhà máy cơ khí xây dựng L Ninh.

Diện tích 58 m2 đất mà vợ chồng ông Lưu Văn N tự sử dụng đến nay phù hợp quy hoạch đất ở, không tranh chấp nên căn cứ khoản 1 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ và điểm b khoản 2 Điều 19 Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 18-12-2015 của UBND thành phố Hà Nội thì vợ chồng ông Lưu Văn N, bà Lê Thị Thanh B được công nhận quyền sử dụng đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 18-12-2015 của UBND thành phố Hà Nội thì khi được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông Lưu Văn N phải nộp 50% tiền sử dụng đất.

UBND huyện Thanh Tr ban hành Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 31-3-2016 xác định vợ chồng ông Lưu Văn N và bà Lê Thị Thanh B phải nộp nghĩa vụ tài chính đối với toàn bộ 130,2 m2 đất bao gồm cả diện tích đất được Nhà máy cơ khí L Ninh cấp là không phù hợp. Tuy nhiên, UBND huyện Thanh Tr đã ban hành Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 sửa đổi quyết định hành chính để xác định vợ chồng ông Lưu Văn N và bà Lê Thị Thanh B phải nộp tiền sử dụng đất 50% đối với 58 m2 đất tự sử dụng là đúng pháp luật.

Chủ tịch UBND huyện Thanh Tr ban hành Quyết định số 8015/QĐ-UBND ngày 23-9-2016 giải quyết khiếu nại của ông N đối với Quyết định 4160/QĐ-UBND ngày 16-6-2016 không chấp nhận khiếu nại của ông N là có căn cứ.

Ông Lưu Văn N thừa nhận tự sử dụng 58 m2 đất do lấn ra phía trước phần diện tích được Giám đốc nhà máy phân cho sử dụng, không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất nhưng cho rằng không còn là đất sử dụng do lấn đất là không có cơ sở. Thông báo nộp thuế sử dụng đất không là giấy tờ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của Luật Đất đai, ông N sử dụng đất thì phải có trách nhiệm đóng thuế sử dụng đất.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn N là có căn cứ.

Ông Lưu Văn N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

1. Bác kháng cáo của ông Lưu Văn N.

2. Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2017/HCST ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

3. Án phí: Ông Lưu Văn N phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm được trừ vào khoản tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AB/2015/0009543 ngày 19/92017 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ