vanban.org

Bản án 203/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/07/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Phúc T. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: B cáo Nguy n Phúc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: B cáo Nguy n Phúc T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y 17/01/2017.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phúc T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Phúc T. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
TÒA N N N N N ÒA
N
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2017/HSPT
Ngày: 31/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚ

N Ò

N

Ệ N M

Ò N N N N N

N

ÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Nguy n Th Mai

Các thẩm phán:

Ông Tô Phú Đông

Ông Ngô Tấn Lợi

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguy n Tấn Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 190/2017/HSPT ngày 03 tháng 7 năm 2017 đối với b cáo Nguy n Phúc T.

Do có kháng cáo của b cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2017/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân th nh phố C.

Bị cáo có kháng cáo:

N UYỄN Ú

- Sinh năm 1989;

- HKTT: ấp 2, xã M, huyện T1, tỉnh Đồng Tháp;

- Chỗ ở: Tổ 32, khóm 4, phường 6, th nh phố C, tỉnh Đồng Tháp;

- Quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 12/12;

- Nghề nghiệp: L m thuê

- Con ông Nguy n Văn T2, sinh năm 1971 v b Nguy n Th M1, sinh năm 1970;

- Vợ tên: Nguy n Th Ngọc T3, sinh năm 1989;

- Có 03 anh em: B cáo l con thứ 01 trong gia đình;

- Có 1 con sinh năm 2012 v vợ đang mang thai;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Tạm giữ: Ngày 17/01/2017;

- Tạm giam: Ngày 26/01/2017.

- Hiện b cáo đang b tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Hồng Đức – Văn phòng luật sư Hồng Đức thuộc Đo n luật sư tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có Viện kiểm sát không kháng nghị.

N

UN Ụ N:

Nguy n Phúc T l đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, để có ma túy sử dụng T đi nhiều nơi mua ma túy về để sử dụng, T đã mua ma túy của người đ n ông tên B ở th nh phố H và anh S người Camphuchia (Không rõ đ a chỉ) nhiều lần, mỗi lần 1 đến 3 triệu đồng đem về để d nh sử dụng.

V o ng y 12/01/2017, T một mình đến cửa khẩu B1 thuộc huyện M2, tỉnh L gặp anh S người Campuchia, lần n y anh S cho T 03 b ch (01 b ch lớn, 01 b ch nhỏ dạng nắp kẹp có chất bột m u trắng v 01 b ch dạng kẹp có bột m u trắng lẫn dạng tinh thể rắn) T đem về nh vợ chồng T thuê tại tổ 32, khóm 4, phường 6, th nh phố C, cất giấu. T sợ số ma túy do S cho là Hêrôin nên không dám sử dụng nên bỏ v o gói mì hiệu Colusa rồi giấu trong sọt rác ở khu vực trước cửa nh (Ở phía trong hàng rào).

Khoảng 19 giờ ng y 16/01/2017, T sử dụng xe mô tô Air Blade biển số giả 65K1-355.xx của mình chạy đến ngã ba A thuộc huyện C1, tỉnh Tiền Giang. T gặp người thanh niên tên L (Không rõ đ a chỉ) mua 01 b ch ma túy 2 triệu đồng đem về nh thuê tại tổ 32, khóm 4, phường 6, th nh phố C, cất giấu trên đầu tủ quần áo. Khoảng 13 giờ ng y 17/01/2017, T lấy b ch ma túy n y ra sử dụng cùng với Huỳnh Ho i P v Trần Thanh D v Lê Trung H thì b bắt quả tang v thu giữ:

+ Tại khu vực trước cửa nh của T phát hiện 03 b ch nylon (02 b ch nhỏ, 01 b ch lớn) dạng túi kẹp bên trong có chứa chất bột m u trắng để bên trong túi mì có chữ Colusa thu giữ tại v trí trong sọt rác trước cửa nh , đã niêm phong ký hiệu A1.

+ Tại phòng ngủ của T 01 b ch nylon dạng túi kẹp bên trong có nhiều tinh thể rắn m u trắng, đã niêm phòng kí hiệu A2.

+ Ngay v trí cửa sau nh phát hiện 01 chiếc cân điện tử m u đen-bạc, có chữ Amput đã qua sử dụng, 01 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy gồm 01 nỏ, 01 bình nhựa, 01 ống hút và 01 bình ga.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia model 105 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám đ nh số 52/KL-KTHS, ng y 22/01/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

+ Chất bột m u trắng có tổng trọng lượng l 47,5871gam chứa trong 02 b ch nylon dạng nắp kẹp (Kí hiệu M1 v M2) niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 không phát hiện chất ma túy v tiền chất ma túy, th nh phần chính l Cafein.

+ Chất bột m u trắng lẫn tinh thể rắn có trọng lượng l 2,2610 gam chứa trong 01 b ch nylon dạng nắp kẹp (Kí hiệu A3) niêm phong trong phong bì kí hiệu A1 có Methamphetamine, h m lượng 31,62%. Trọng lượng chất ma túy Methamphetamine trong tinh thể rắn l 2,2610 gam x 31,62% = 0,7149 gam.

+ Tinh thể rắn có trọng lượng 2,1402 gam chứa trong 01 b ch nylon h n kín (Kí hiệu M4) niêm phong trong phong bì kí hiệu A2 có Methamphetamine, h m lượng 60,49%, trọng lượng chất ma túy Methamphetamine trong tinh thể rắn l 2,1402 gam x 60,49% = 1,2947 gam.

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại xe Air Blade m u sơn đen-xám, số khung 4611EZ481454, số máy JF46E7109675, biển số 65K1-355.xx.

+ 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 65K1-355.xx mang tên Nguy n Thái H1, sinh năm 1993, đ a chỉ: xã T4, huyện C1, th nh phố C3.

T khai nhận mua chiếc xe mô tô hiệu Honda loại xe Air Blade trên mạng Internet với giá 16 triệu đồng v đặt l m giấy đăng ký xe giả trên mạng với giá 2,5 triệu đồng để sử dụng đến khi b bắt.

Qua điều tra xác minh chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Air Blade biển số 59T1-818.xx l của ch Lại Th Thùy D1, sinh năm 1992, đ a chỉ: 17/19, Thạch Th T5, phường T6, quận 1, th nh phố H, b mất cắp v o ng y 20/12/2016 tại phường 24, quận B, th nh phố H nên Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã chuyển vật chứng l chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Air Blade cùng các t i liệu có liên quan đến Công an quận B, th nh phố H xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Tuyên bố: B cáo Nguy n Phúc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự .

Xử phạt: B cáo Nguy n Phúc T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26/5/2017, b cáo Nguy n Phúc T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề ngh : Án sơ thẩm chưa xem xét khi phạm tội b cáo l người chưa có tiền án, tiền sự, b cáo ông Nguy n Văn T7 (L ông nội) có Huân chương độc lập, có giấy khen v mục đích b cáo t ng trữ ma túy để sử dụng. Ngo i ra án sơ thẩm chưa áp dụng Ngh quyết số 41/QH14 ng y 20/6/2017 về việc thi h nh Bộ luật hình sự số 100/2015 QH13 ngày 27/11/2015. Do đó đề ngh căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Phúc T. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt v giảm cho b cáo từ một năm đến hai năm tù.

Luật sư b o chữa cho b cáo thống nhất án sơ thẩm xử: B cáo Nguy n Phúc T về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Nhưng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét b cáo t ng trữ ma túy chỉ để sử dụng chứ không có bán cho ai. B cáo chưa có tiền án, tiền sự và có ông Nguy n Văn T7 (Là ông nội) có Huân chương độc lập, có giấy khen chưa được cấp sơ thẩm xem xét, ngo i ra sau khi án sơ thẩm xử b cáo có nộp án phí sơ thẩm. Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để xử b cáo dưới khung hình phạt.

B cáo Nguy n Phúc T thống nhất án sơ thẩm xử b cáo về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Nhưng b cáo xin Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ v xin giảm hình phạt cho b cáo, nhằm tạo điều kiện cho b cáo chăm lo cho gia đình, vợ b cáo sắp sinh.

Căn cứ v o các t i liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ v o kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, to n diện các t i liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến b o chữa của luật sư, lời khai của b cáo v những người tham gia tố tụng khác.

N ẬN ỊN

TÒA ÁN:

B cáo Nguy n Phúc T là người đã trưởng th nh, b cáo nhận biết được ma túy không có tác dụng cho con người khi sử dụng nó. Nhưng b cáo lại sử dụng ma túy đá m không đi cai nghiện để trở th nh công dân tốt v l tấm gương tốt cho con noi theo. Nguồn ma túy b cáo có để sử dụng l do b cáo trực tiếp đi mua tại phố H, Camphuchia. B cáo mua v đem về nh cất giấu để dành sử dụng. V o tối ngày 16/01/2017, b cáo cùng với Huỳnh Ho i P, Trần Thanh D và Lê Trung H sử dụng thì b bắt. Theo kết luận giám đ nh các b ch nylon thu giữ tại nh b cáo l ma túy có trọng lượng 2.0096g.

B cáo Nguy n Phúc T khai nhận, b cáo mua ma túy về sử sụng chứ không bán cho ai. Nhưng b cáo cũng nhận biết được ma túy l chất gây tác hại cho con người nên Nh nước độc quyền quản lý. Mục đích Nh nước cấm mua bán, t ng trữ l để bảo đảm sức khỏe cho con người. Bản án sơ thẩm xử b cáo về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” l ho n to n có căn cứ. Mức hình phạt 04 năm tù Tòa sơ thẩm tuyên đối với b cáo l có phần nghiêm khắc, bởi lẽ án sơ thẩm chưa xem xét khi phạm tội b cáo l người chưa có tiền án, tiền sự. Án sơ thẩm chưa nhận đ nh căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 1 Ngh Quyết số 109/2015 QH13 ngày 27/11/2015, khoản 4 Điều 1 của Ngh Quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016, để giảm hình phạt cho b cáo. Vì theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, còn khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự thì khung hình phạt 02 năm đến 07 năm tù. Như vậy điều luật mới có mức hình phạt nhẹ hơn điều luật cũ, nhưng bản án không nhận đ nh để xem xét giảm hình phạt cho b cáo. (Nay đã có Ngh quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thay thế các Ngh quyết trên), hơn nữa sau khi xét xử sơ thẩm b cáo xuất trình căn cứ gia đình có công Cách mạng (Ông Nguy n Văn T7 l ông nội b cáo có Huân chương độc lập v có giấy khen). Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của b cáo v giảm cho b cáo một phần về hình phạt, là phù hợp theo đề ngh của đại diện Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa luật sư b o chữa cho b cáo cho rằng b cáo có ông Nguy n Văn T7 (L ông nội) có Huân chương độc lập, có giấy khen chưa được cấp sơ thẩm xem xét và án sơ thẩm chưa áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho b cáo l có căn cứ. Nhưng luật sư đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 v Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử b cáo dưới khung hình phạt l không có căn cứ để chấp nhận như Hội đồng xét xử nhận đ nh trên.

Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Do kháng cáo của b cáo được chấp nhận nên b cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ v o điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾ ỊN :

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Phúc T. Sửa quyết đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: B cáo Nguy n Phúc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự .

Xử phạt: B cáo Nguy n Phúc T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y 17/01/2017.

Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Về án phí: B cáo Nguy n Phúc T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

M

N

Ú

M

Cỡ chữ