vanban.org

Bản án 202

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Trọng Q.

Về trách nhiệm hình sự Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng Q phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Trọng Q- Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Trọng Q.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

DÂN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 202/2023/HS-ST Ngày: 25 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Sơn

Bà Tôn Thị Ngọc Sang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Trọng Q, sinh ngày 10/02/2004 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Làng B, xã K, huyện S, tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Hoàng Văn H và bà Huỳnh Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Võ Minh T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Tạm trú: Ô 8 DC23, khu phố 4, phường P, Thành phố A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị H, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Phạm Long N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 26/02/2023, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số: 81B1-632.14 chạy đến đường B1, khu dân cư Thuận Giao, khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy Võ Minh T, sinh năm: 1993; Nơi đăng ký HKTT; Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Thuận đang điều khiển xe mô tô biển số: 68D1-203.06 chạy phía trước, tay trái T cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen đang gọi điện thoại cho khách hàng. Lúc này, Q điều khiển xe mô tô từ phía sau lên áp sát vào bên trái xe mô tô của T rồi dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen của T rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng đường Mỹ Phước - Tân Vạn. T liền đuổi theo truy hô, thời điểm này Tổ cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An đang tuần tra nghe thấy cùng người dân đuổi theo đến địa chỉ số 75/5 đường Chu Văn An, khu phố 4, phường An Phú, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dưỡng thì bắt giữ được Q và thu giữ tang vật giao cho Công an phường An Phú lập biên bản người phạm tội quả tang, sau đó chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xử lý.

Tang vật thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển số: 81B1- 632.14, số máy: 0018891.

Căn cứ biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen, có trị giá 1.200.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 225/CT-VKS-TA ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Hoàng Trọng Q về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hoàng Trọng Q từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen là tài sản của bị hại Võ Minh T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Thuận An đã trả lại cho bị hại T nên Kiểm sát viên không đề nghị xử lý.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển số: 81B1-632.14, số máy: 0018891 do Hoàng Trọng Q sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác định bà Huỳnh Thị Hồng, sinh năm 1979, HKKT: Thôn Đồng Hải, xã Ia Vê, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (bà Hồng là mẹ bị cáo Q) đứng tên trên giấy đăng ký xe. Bà Hồng cho Q mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại nhưng không biết Q sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bà Hồng nên Kiểm sát viên không đề nghị xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Minh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt đã bị truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo đã biết hành vi của bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 26/02/2023, tại đường B1, khu dân cư Thuận Giao, khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị cáo Hòang Trọng Q dùng xe mô tô thực hiện hành vi cướp giật tài sản là điện thoại di động hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen trị giá 1.200.000 đồng của ông Võ Minh T thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, có tiền tiêu xài không phải bằng sức lao động, bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, điều khiển xe mô tô để cướp giật tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 2,4 (TA 1270) màu đen là tài sản của bi hại, nên Cơ quan Điều tra đã trả lại bị hại là phù hợp.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển số: 81B1-632.14, số máy: 0018891 là tài sản của bà Huỳnh Thị Hồng là mẹ của bị cáo. Bà Hồng cho bị cáo mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại nhưng không biết bị cáo sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bà Hồng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Trọng Q.

- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự

Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng Q là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023.

2. Về án phí

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ