- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn ông Lý Nhựt T về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 5 – VĨNH LONG phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2026/HNGĐ-ST Ngày: 10-8-2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Quang Trưởng 2. Bà Dương Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Thi – Kiểm sát viên. Trong ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 491/2026/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 389/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1990 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx;
Địa chỉ: 6, ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Lý Nhựt T, sinh năm 1988 (Vắng mặt);
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx;
Địa chỉ: 6, ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà L và ông T do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không phù hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình nhiều lần động viên cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông ông T. Về con chung: thời gian sống chung, bà và ông T có một con chung là cháu Lý Nhựt Bảo L1, sinh ngày 21/10/2015. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn ông Lý Nhựt T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L; về con chung: sau khi ly hôn con chung là Lý Nhựt Bảo L1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: bà L khai không có nên không xem xét giải quyết; tuyên án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Kim L khởi kiện ông Lý Nhựt T yêu cầu ly hôn và nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lý Nhựt T là bị đơn đang sinh sống tại xã G, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Lý Nhựt T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2015. Xét thấy, hôn nhân của bà L và ông T đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà L và ông T có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau một con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc bà L xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà L cho rằng nguyên nhân mất hạnh phúc là do vợ chồng tính tình không phù hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung; Gia đình nhiều lần động viên cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời bà L và ông T đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của ông bà nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với bà L. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: L và ông T là vợ chồng nhưng ông bà không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà ông bà lại bỏ mặc nhau, nên ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp.
Về con chung: thời gian sống chung, L và ông T một con chung là cháu Lý Nhựt Bảo L1, sinh ngày 21/10/2015. Hiện nay, con chung do bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu L1 đang chung sống với bà L. Tại văn bản ghi nhận ý kiến của con chung thì cháu L1 có nguyện vọng được sống với mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với bà L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, sự phát triển tốt về tinh thần và bảo đảm cuộc sống sinh hoạt được ổn định cho cháu L1 nên Hội đồng xét xử giao cháu L1 cho bà L trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày là không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông T cũng không có văn bản trình bày là ông và bà L có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu do bà L yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn ông Lý Nhựt T về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Lý Nhựt T.
1.2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Nhựt Bảo L1, sinh ngày 21/10/2015 cho bà Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu ông Lý Nhựt T cấp dưỡng nuôi con.
Ông Lý Nhựt T được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim L trình bày là không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008333 ngày 05 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị Kim L đã thực hiện xong.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Lý Nhựt T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 5 – Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã/ phường; - Các đương sự; - Lưu (HS, VP). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Cẩm Trang |