vanban.org

Bản án 202/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số:12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van T pham toi Cuop giat tai san - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2025/HS-PT
Ngày: 22 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thanh Giang

Các Thẩm phán: 1- Ông Nguyễn Thiện Tâm;

2- Bà Lê Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thành– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Du – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 177/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T; sinh ngày 10 tháng 5 năm 1958, tại B. Nơi thường trú: ấp L, xã M, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1932 (chết) và bà Mai Thị Ú, sinh năm 1932 (chết); vợ tên Mai Thị N, sinh năm 1954 (chết) và có 02 người con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không có.

Nhân thân: Ngày 06-8-1981, bị Ủy ban nhân dân tỉnh L ra Quyết định 1340/UB bắt tập trung cải tạo thời gian 03 năm về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo chấp hành xong ngày 08-10-1982.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 21/ LC-ĐTTH ngày 13-02-2025. Thời hạn từ 13-02-2025 đến 13-10-2025.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn bị hại không có kháng cáo, kháng nghị. Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ, ngày 18-12-2024, bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 62S2-8504 lưu thông trên đường liên xã L - P để đến xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã L, tỉnh Tây Ninh) để tìm bạn. Khi đến khu vực trước tiệm U thuộc ấp C, xã P (nay ấp A, xã L) thì thấy bị hại Huỳnh Thị P đang điều khiển xe đạp bán vé số dạo, lưu thông chiều ngược lại nên bị cáo T gọi mua vé số và cả hai dừng xe lại. Lúc này, T điều khiển xe quay lại đậu xe song song với xe của bà P, bà P đưa 326 tờ vé số mở thưởng ngày 18-12-2024 gồm 03 đài Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng cho bị cáo chọn. Bị cáo T nhìn thấy đường vắng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt vé số của bà P. Bị cáo T giả vờ hỏi mượn tờ giấy dò vé số để bà P mất tập trung, lợi dụng lúc đó T cầm xấp vé số điều khiển xe tăng ga nhanh chóng tẩu thoát. Thấy vậy, bà P đạp xe đuổi theo và tri hô “Cướp…cướp” nhưng không đuổi kịp nên đến Công an xã P trình báo.

Sau khi chiếm đoạt được vé số, bị cáo T đi dọc theo Quốc lộ A trên địa bàn huyện B bán cho người đi đường được số tiền 1.530.000đ và khách đổi 02 tờ vé số trúng (mỗi tờ trúng giải 100.000đ), tổng cộng được 1.730.000đ. Số tiền có được bị cáo T đi đến cửa hàng Đ ở ấp C, xã P, huyện B nhờ chị Phạm Thị Thùy T1 chuyển cho một người tên P (là bạn của T, không rõ họ tên, địa chỉ), thông qua số tài khoản mà P cung cấp là 25623677 (Ngân hàng A, chủ tài khoản là Phan Van T2) số tiền 1.700.000đ. Đến 18 giờ cùng ngày, Công an xã P mời bị cáo T làm việc, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 1378/KL-HĐĐGTS, ngày 12-8-2025 của Hội đồng định giá kết luận: 326 tờ vé số mở thưởng ngày 18-12-2024 (gồm 03 đài Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng) tại thời điểm 07 giờ 00 phút ngày 18-12-2024 là 3.260.000đ.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại giá trị 326 tờ vế số là 3.260.000đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tây Ninh, đã xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Áp dụng Án lệ số 57/AL đã công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Nội dung kháng cáo:

Ngày 23-9-2025 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo T giữ nguyên kháng cáo: xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo vì bị cáo lớn tuổi, đang bị bệnh đái tháo đường tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo ở ngoài để trị bệnh.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa đề nghị: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài là hồ sơ bện án đái tháo đường, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ mới. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23-9-2025 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo hợp lệ, đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Vào khoảng 07 giờ, ngày 18-12-2024, bị cáo T điều khiển xe môtô lưu thông đến xã L, tỉnh Tây Ninh, trên đường đi bị cáo T gặp bị hại P bán vé số dạo nên bị cáo gọi và dừng xe lại để mua vé số, khi tiếp cận bà P và cầm 326 tờ vé số mở thưởng ngày 18-12-2024 gồm 03 đài Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng, lợi dụng bà P sơ hở không để ý bị cáo T đã cầm toàn bộ vé số, tăng ga xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 1378/KL-HĐĐGTS ngày 12-8-2025 của Hội đồng định giá kết luận: 326 tờ vé số mở thưởng ngày 18-12-2024 có giá trị là 3.260.000đ. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Tây Ninh xét xử bị cáo về tội “ Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt vé số của bị hại P là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích động cơ tư lợi cá nhân, sau khi chiếm đoạt được 326 tờ vé số của bà P bỏ chạy thoát bị cáo bán lại cho người đi đường được 173 tờ thành tiền là 1.730.000 đồng tiêu xài. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ số tiền 3.260.000 đồng cho bị hại, bị hại có đơn giảm nhẹ cho bị cáo là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, mức án đã xử 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi ( trên 60 tuổi) nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số:12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tây Ninh.

2/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng Án lệ số 57/2023/AL đã công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24-02-2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3/ Án phí: Bị cáo T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ