vanban.org

Bản án 202/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Quách Thành V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2022. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2022/HS-ST
Ngày: 14-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Phú

Ông Trương Minh Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 207/TLST-HS ngày 03/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Quách Thành V, sinh ngày: 15/3/1991, tại H; nơi cư trú: Xóm C, xã V), huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn L, sinh năm: 1962 và bà Bùi Thị P, sinh năm: 1960, nơi cư trú: Xóm C, xã V), huyện L, tỉnh Hòa Bình; vợ: Bùi Thị X (chết), con: có 01 con (chết); tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:

- Ngày 11/8/2007, bị Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi mua các số lô, số đề;

- Ngày 29/8/2017, bị Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi đánh bạc, ngày 29/8/2017 đã chấp hành xong;

- Ngày 08/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện số 02 tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo bị bắt ngày 07/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Bị hại: ông Đỗ Văn T, sinh năm: 1983, trú tại: số X đường H, phường K, thành phố Đ. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Châu Khắc N, sinh năm: 1994, trú tại: số X hẻm N, phường K, thành phố Đ. Vắng mặt.

2. Bà Phan Hồ H, sinh năm: 1976, trú tại: số H đường C, phường Y, thành phố Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Thành V sử dụng ma túy từ năm 2016. Năm 2019, V từ huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình vào thành phố Đà Lạt làm thuê. Vào lúc 18 giờ ngày 17/11/2021, V mượn xe mô tô hiệu Atila màu đỏ, biển số 52U6-8360 của bà Phan Hồ H đi tìm người thân nhưng không tìm được. Khi đi ngang qua kho để đồ nghề xây dựng của ông Đỗ Văn T ở A hẻm P, phường T, thành phố Đ thấy cửa khóa, không có người trông coi nên V nảy sinh ý định vào trộm đồ nghề xây dựng để bán lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Thực hiện ý định, khoảng 04 giờ ngày 18/11/2021, V sử dụng xe mô tô biển số 52U6-8360 quay lại kho để đồ nghề xây dựng của ông T dùng 01 tuốt nơ vít (có sẵn trong cốp xe) cạy bản lề cửa kho, mở cửa đi vào trong kho, lục tìm tài sản và lấy trộm được: 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ, V bỏ tất cả số máy này vào một bao tải lấy ở trong kho mang ra xe mô tô chở đến đường Đinh Tiên Hoàng cất giấu rồi đi về phòng trọ ở số C đường C, phường E thành phố Đ ngủ. Đến 8 giờ cùng ngày, V sử dụng xe mô tô biển số 52U6-8360 đến đường Đinh Tiên Hoàng để lấy số tài sản trộm cắp được trước đó mang đến cửa hàng điện cơ K ở số S đường N, phường U, thành phố Đ bán cho ông Châu Khắc N chủ cửa hàng được 1.400.000đ. Số tiền trên V đã tiêu xài cá nhân hết 100.000đ, mua 500.000đ ma túy của một người tên N (không rõ nhân thân lai lịch) ở đường X, phường R, thành phố Đ, còn 800.000đ V cất giữ trong người. Đến 13 giờ cùng ngày, V bị Công an phường 9 phát hiện đưa về trụ sở Công an phường 9 làm việc, V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Trong thời gian tại ngoại, V bỏ về quê ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Ngày 08/4/2022, V bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 2 tỉnh Hòa Bình. Đến ngày 07/6/2022, Văn bị cơ quan Công an bắt giữ theo Quyết định truy nã số 09 ngày 16/4/2022.

Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt xác định: 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng, trị giá 800.000đ; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh, trị giá 600.000đ; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch, trị giá 500.000đ; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ, trị giá 600.000đ; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi, trị giá 600.000đ; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng, trị giá 700.000đ; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ, trị giá 300.000đ. Tổng giá trị tài sản: 4.100.000đ

Về vật chứng: 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng, đã qua sử dụng; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh, đã qua sử dụng; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch, đã qua sử dụng; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi, đã qua sử dụng; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng, đã qua sử dụng; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ, biển số 52U6-8360; 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 tuốt nơ vít dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu vàng, mũi bằng kim loại đã qua sử dụng; số tiền 800.000đ.

Bị hại ông Đỗ Văn T xác nhận bị mất 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ. Tổng giá trị tài sản bị mất là 4.100.000đ (bốn triệu một trăm ngàn đồng). Ông T đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Châu Khắc N là người mua lại số tài sản V trộm cắp với giá 1.400.000đ. Văn đã bồi thường số tiền này nên ông N không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phan Hồ H là người cho V mượn xe biển số 52U6-8360. Bà H không biết V sử dụng xe này vào việc phạm tội và Cơ quan Công an đã trả lại xe mô tô cho bà H.

Tại bản cáo trạng số 203/CT-VKSĐL ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Quách Thành V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận khoảng 4 giờ ngày 18/11/2021, V cạy bản lề cửa kho của ông T lấy trộm: 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ với tổng giá trị tài sản là 4.100.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản xác định hiện trường, biên bản tạm giữ tang vật, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo là thanh niên có sức khỏe, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhưng lười lao động nên khoảng 4 giờ ngày 18/11/2021 bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng, trị giá 800.000đ; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh, trị giá 600.000đ; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch, trị giá 500.000đ; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ, trị giá 600.000đ; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi, trị giá 600.000đ; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng, trị giá 700.000đ; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ, trị giá 300.000đ. Tổng giá trị tài sản là 4.100.000đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức án nghiêm minh, tương xứng, phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, nhất thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Đối với hành vi của ông Châu Khắc N là người mua tài sản do bị cáo trộm cắp. Tuy nhiên, khi mua ông N không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông N là có căn cứ.

Xử lý vật chứng: 01 máy hàn hiệu Boss màu vàng, đã qua sử dụng; 01 máy cưa DCA ký hiệu AMI 02-185 màu xanh, đã qua sử dụng; 01 máy khoan bê tông hiệu Bosch, đã qua sử dụng; 01 máy khoan bê tông hiệu Kenmax màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 máy cắt gạch hiệu Stanley màu ghi, đã qua sử dụng; 01 máy bắn tia laze hiệu Akuza màu vàng, đã qua sử dụng; 01 máy mài cầm tay ký hiệu AD100A-ALGLEGRTENDER màu đỏ, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã trả lại các tài sản trên cho ông T. Đối với, xe mô tô hiệu Atila màu đỏ, biển số 52U6-8360 Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu là bà H. Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 tuốt nơ vít dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu vàng, mũi bằng kim loại đã qua sử dụng, đây là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Về số tiền 800.000đ, đây là tài sản do phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Vấn đề dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu giữ hoàn trả cho bị hại là ông Đỗ Văn T, ông T không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xem xét. Đối với số tiền 1.400.000đ, ông N mua các máy móc từ bị cáo, bị cáo đã trả lại số tiền này cho ông N, ông N không có yêu cầu gì thêm.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quách Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Quách Thành V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) (theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.1078623.00000 tại KBNN tỉnh Lâm Đồng ngày 30/9/2022 giữa ông Nguyễn Cao Tuấn Phong và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) tuốt nơ vít dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu vàng, mũi bằng kim loại đã qua sử dụng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/9/2022 giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Quách Thành V phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ