- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2022/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hưng Quang.
2. Ông Phạm Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 189/2022/TLST-HS ngày 09/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2022/QĐXXST-HS ngày 14/12/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành H (Cu Ba), sinh năm 2002, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố X, thị trấn C, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khu phố S, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thị H2; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không;
Quá trình hoạt động nhân thân:
- Ngày 23/7/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 23/01/2019.
- Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 122/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Ngày 06/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 14/2020/HSST. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 122/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 30/4/2021 (không có án tích vì lúc phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi).
Bị cáo bị bắt ngày 08/12/2022 (theo quyết định truy nã), hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Thành X1, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố X2, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng nên khoảng 00 giờ ngày 25/5/2022 Nguyễn Thành H có hộ khẩu thường trú tại khu phố X, thị trấn C, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, hiện đang sinh sống tại nhà ngoại của H ở Khu phố S, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đi bộ từ nhà ngoại của H đến khu phố X2, thị trấn P tìm nhà nào để tài sản sơ hở sẽ trộm cắp. Khi đến nhà của Lê Thành X1, thấy cửa bên hông nhà mở nên H leo qua hàng rào rồi đi vào bên trong nhà bằng cửa bên hông. H nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo A74 màu đen của X1 đang cắm sạc gần tivi nên H tháo dây sạc ra lấy điện thoại cất vào lưng quần rồi đi về nhà ngoại của H cất giấu điện thoại tại phòng ngủ của H. X1 làm đơn trình báo gửi Công an thị trấn P, nghi ngờ H thực hiện hành vi trộm cắp nên Công an thị trấn P mời Hiếu làm việc, H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp điện thoại trộm cắp cho Công an thị trấn P xử lý theo quy định pháp luật.
Căn cứ biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phong, kết luận: 01 điện thoại di động Oppo A74 màu đen: 5.190.000 đồng/chiếc x 80% = 4.152.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá: 4.152.000 đồng (bốn triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTP-HS ngày 08/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- ki n của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 15 – 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ý kiến bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tại Cơ quan điều tra bị hại đã cung cấp đầy đủ lời khai và đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ ngày 25/5/2022 tại khu phố X2, thị trấn P, huyện Tuy Phong, bị cáo Nguyễn Thành H đã có hành vi lén lút, bí mật đột nhập vào nhà của Lê Thành X1 và chiếm đoạt 01 điện thoại di động Oppo A74 màu đen, theo kết luận định giá tài sản thì tài sản bị chiếm đoạt trị giá 4.152.000 đồng (bốn triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo giao nộp tài sản chiếm đoạt và đã trả lại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương. Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, do cần tiền để tiêu xài và mua ma túy sử dụng, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, do đó cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/12/2022.
2. Về án phí:
Áp dụng: Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo, bị hại; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng Vũ |