vanban.org

Bản án 202/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng A- Cố ý gây thươngtích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 202/2020/HS-ST
Ngày 16 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nhật Quang.

Bà Dƣơng Thị Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2020/HSST-QĐ ngày 03/7/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1996 tại tỉnh Quảng Nam; nơi cƣ trú: Thôn G, xã Q, huyện QS, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành P và bà Trần Thị Lan H; bị cáo có vợ tên Hoàng Thị T và 02 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Triệu Văn T1, sinh năm 1992, nơi cƣ trú: 13 ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Triệu Văn M, sinh năm 1975, nơi cƣ trú: 13 ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

Bà Hà Thị K, nơi cƣ trú: 13 ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1973, nơi cƣ trú: Thôn G, xã Q, huyện QS, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1974. Vắng mặt

Ông Trƣơng Phú T3, sinh năm 1989. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31/12/2019, Triệu Văn T1, Bùi Văn T2, Nguyễn Hoàng A cùng với Hoàng, Tỷ (chƣa rõ lai lịch) đến quán Karaoke Vân Anh 3, địa chỉ: 1/1 khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng để hát và ăn uống. Khi đến thì cả nhóm vào phòng Vip 7, trong lúc ăn uống thì giữa T1 và Hoàng A xảy ra mâu thuẫn có cãi nhau trong phòng rồi lao vào đánh nhau thì đƣợc T2, Hoàng, Tỷ can ngăn. A bỏ chạy ra khỏi phòng và đi vào nhà xe của quán karaoke thấy 01 con dao Thái Lan và 01 cây búa trên ghế tại nhà để xe, A lấy hai hung khí này rồi quay lại phòng hát karaoke. Lúc này, T1, T2, Hoàng, Tỷ cũng đi ra tới ngoài sân của quán karaoke, nhìn thấy A cầm hung khí, T2 giật đƣợc chiếc búa khỏi tay A, T1 tiếp tục tiến về phía A nói chuyện cãi vã và đánh A, sẵn có dao đang cầm trên tay, A lao vào dùng dao đâm T1 một nhát vào vùng lƣng thì đƣợc T2, Hoàng, Tỷ can ngăn, thấy T1 chảy máu nên A bỏ đi, còn T1 đƣợc T2, Tỷ đƣa đến bệnh viện cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 13/2020 ngày 09/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Vết thƣơng lƣng ngang đốt sống ngực D5, sẹo 9 x0,6cm, đứt cơ cạnh cột sống hai bên, thấu ngực tràn máu màng phổi phải. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho bị hại Triệu Văn T1 là 14%.

Cáo trạng số 189/CT-VKS-TA ngày 15/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; việc phạm tôi có một phần lỗi của bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, là hung khí mà bị cáo Anh sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình, bị cáo hiện có hai con nhỏ không có ai chăm nom nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt, đƣợc hƣởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Bị cáo đồng ý bồi thƣờng thêm 15.000.000 đồng cho bị hại.

Bị hại trình bày nội dung sự việc nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị hại đã nhận tiền bồi thƣờng 28.000.000 đồng, do sức khỏe còn yếu chƣa đi làm đƣợc nên yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm 15.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Triệu Văn M, Hà Thị K trình bày: Ông M, bà K là cha, mẹ của bị hại, sau khi sự việc xảy ra thì ông M, bà K là ngƣời chăm sóc bị hại và có nhận của ngƣời nhà bị cáo số tiền 28.000.000 đồng để trả tiền thuốc, viện phí cho bị hại.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thành P trình bày: Ông P là cha bị cáo A, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có nhờ ông P bồi thƣờng cho bị hại số tiền 28.000.000 đồng. Ông P không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 01/01/2020 tại quán Karaoke Vân Anh 3, địa chỉ: 1/1 khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Nguyễn Hoàng A đã thực hiện hành vi dùng dao Thái Lan, cán màu vàng, lƣỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho bị hại Triệu Văn T1. Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 13/2020 ngày 09/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Vết thƣơng lƣng ngang đốt sống ngực D5, sẹo 9 x0,6cm, đứt cơ cạnh cột sống hai bên, thấu ngực tràn máu màng phổi phải. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho bị hại Triệu Văn T1 là 14%. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích, tội phạm và hình phạt quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho bị hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì xích mích mâu thuẫn do bị hại đánh bị cáo nên bị cáo cố ý phạm tội. Tuy nhiên, việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo mang tính bộc phát, nhất thời do bị hại chửi bới và đánh bị cáo trƣớc, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động ngƣời thân bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; việc phạm tội do một phần lỗi của bị hại; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc phạm tội mang tính chất bộc phát nhất thời do bị hại là ngƣời đánh bị cáo trƣớc, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, qua thời hạn tạm giữ, tạm giam đã thể hiện sự ăn năn, hối cải, việc không tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.

Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

Về trách nhiệm dân sự: Cha của bị cáo là ông Nguyễn Thành P đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 28.000.000 đồng. Ông P không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng thêm cho bị hại 15.000.000 đồng nên hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, lƣỡi bằng kim loại, là hung khí mà bị cáo Anh sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Khoản 4 Điều 328; Điều 109; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 590 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 16/7/2020. Giao bị cáo A cho Ủy ban nhân dân xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân xã Quế Phong phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Hoàng A tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải bồi thƣờng cho bị hại Triệu Văn T1 số tiền 15.000.000 đồng (mƣời lăm triệu đồng).

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, lƣỡi bằng kim loại màu trắng.(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2020).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (bảy trăm năm mƣơi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.\.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ