vanban.org

Bản án 202/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2019. 3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn S - Cướp giật TS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2019/HS-ST
Ngày: 23-10-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thu Hương;

2/ Bà Trần Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 174/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

H và t n: Bùi Văn S, sinh năm 1994. Tại: Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi ĐKHKTT: Khu phố L, thị trấn L1, huyện L1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trình độ h c vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn H và bà Lâm Thị S; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Duy K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trương Văn Q; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/6/2019, Bùi Văn S đón xe buýt đi từ nhà tr của S ở xã P, thị xã T, tỉnh Bình Dương đến Bến xe Bình Dương để đón xe về nhà S ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Khi đến trước nhà thờ thánh G thuộc khu X, phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì S nảy sinh ý định tìm tài sản chiếm đoạt n n S xuống xe và đứng trước nhà thờ thánh G để tìm cơ hội chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, S thấy anh Phạm Duy K điều khiển xe mô tô biển số 66K1-214.XY lưu thông tr n đường H, hướng từ phường H, thành phố T về phường P, thành phố T thì S xin anh K cho đi nhờ xe thì anh K đồng ý và chở S đi được khoảng 200m (Đến đoạn thuộc khu X, phường P) thì S nhìn thấy trong túi quần b n phải của anh K có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng n n S đưa tay vào túi quần của anh K giật lấy 02 chiếc điện thoại di động tr n rồi nhảy xuống xe bỏ chạy; anh K đuổi theo và truy hô “cướp, cướp” nên S chạy vào tiệm may rèm cửa số 1205, khu X, phường P, thành phố T của anh Trương Văn Q để trốn thì bị anh K và anh Q bắt được S cùng vật chứng là 02 chiếc điện thoại di động giao cho Công an phường P lập Bi n bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Cùng ngày, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 07/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một có Kết luận định giá số 192/KLTS-TTHS, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng trị giá 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trị giá 1.000.000 đồng.

Ngày 10/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử lý vật chứng số 109 giao trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng cho anh Phạm Duy K. Hiện tại, anh Phạm Duy K không y u cầu Bùi Văn S bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 189/CT-VKS-HS ngày 05/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phi n tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có y u cầu gì khác n n không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bi n bản hỏi cung bị can, bi n bản lấy lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 01/6/2019, Bùi Văn S có hành vi dùng tay giật 01 điện thoại đi động hiệu Samsung J7 màu vàng trị giá 3.500.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trị giá 1.000.000đ của ông Phạm Duy K trong lúc ông K đang điều khiển xe mô tô biển số 66K1-214.43 chở S rồi nhanh chóng nhảy xuống xe chạy thoát tr n đường H thuộc khu X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tổng giá trị tài sản S chiếm đoạt là 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nh m đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản bị chiếm đoạt đã được giao trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp n n Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có y u cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2019.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4/ Về biện pháp tư pháp: Không có.

5/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được ni m yết công khai.

Cỡ chữ