- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N và Jo Sang H ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Jđược ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2019/HNGĐ-ST Ngày 27-11-2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huy Vĩnh
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 237/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2170/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, nơi cư trú: Xóm 5, xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh JO SANG HUYN, quốc tịch: Hàn Quốc; địa chỉ: 5 Deokbong 2-gil, Ssangchaek-myeon Hapcheon-gun Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị và anh Jkết hôn trên cơ sở tự nguyện, có làm lễ đính hôn vào ngày 17 tháng 5 năm 2019. Sau đó, hai người đi du lịch cùng nhau, rồi anh Jtrở về Hàn Quốc. Ngày 12 tháng 6 năm 2019, anh Jtrở lại Việt Nam. Hai người đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 6 năm 2019. Sau khi kết hôn, hai người chung sống tại Việt Nam được một thời gian ngắn thì anh J vàphát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Sau đó, anh Jtrở về Hàn Quốc, và chủ động liên lạc đề nghị ly hôn với chị Nguyễn Thị N và từ đó đến nay chưa quay trở lại Việt Nam lần nào Na. Vì thế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến nay nhận thấy tình cảm không còn và không còn khả năng đoàn tụ nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh JO SANG HUYN.
Về con chung: Chị và anh anh Jkhông có con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Jcó chứng thực lãnh sự quán trình bày:
Anh gặp chị Nguyễn Thị N được 02 ngày thì được sự đồng ý của hai bên gia đình, đã làm lễ đính hôn vào ngày 17 tháng 5 năm 2019. Rồi anh chị đi du lịch 2 ngày thì anh trở về Hàn Quốc. Hai người thường xuyên liên lạc với nhau. Đến ngày 12 tháng 6 năm 2019 anh về Việt Nam, ngày 14 tháng 6 năm 2019 anh và chị N làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Sau đó, anh về nhà chị N ở, từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vì vậy, anh Jđã trở về Hàn Quốc và nhắn tin với chị N làm thủ tục ly hôn. Anh cũng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị N không có con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị N làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh JO SANG HUYN, anh Jcó quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn và anh Jlà bị đơn trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có ý kiến yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Jkết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị Nguyễn Thị N và anh Jxác định không còn tình cảm và yêu thương nhau. Anh Jđã trở về Hàn Quốc, và chủ động muốn ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Xét việc chị Nguyễn Thị N và anh Jcùng thuận tình ly hôn là tự nguyện do mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N và anh Jtheo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh chị không có con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Jđược ly hôn.
2. Về nuôi con chung và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Jkhông có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2016/0008439 ngày 30 tháng 10 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh Jđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận được bản án.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Hồ Điệp |