- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên Thị L - Lại Thị Tố U"
- Tòa quyết gì? 1/- Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 20/2019/DS-ST ngày 08/4/2019
- Căn cứ chính? Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 202/2019/DS-PT Ngày: 22/11/2019 |
V/v “Tranh chấp đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc Các Thẩm phán: 1/- Ông Trương Hoài Bình. 2/- Bà Võ Bích Hải. - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Huỳnh Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên. Trong ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2019/TLPT-DS ngày 07 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2019/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 258/2019/QĐPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L. sinh năm: 1958. Địa chỉ: Đinh Công T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Nguyễn Duy T. sinh năm: 1983. Địa chỉ: đường Trần Hoàng N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 16/11/2019). 2. Bị đơn: Bà Lại Thị Tố U. sinh năm: 1942. Bà Giang Thanh T. sinh năm: 1961. Bà Giang Thu V. sinh năm: 1963. Ông Lê D. sinh năm: 1960. Địa chỉ: Đinh Công T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: anh Trương Văn H. sinh năm: 1994 và chị Nguyễn Thị Kim A. sinh năm: 1997. Địa chỉ: Nguyễn Cư T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 09/10/2019). 4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị L; bị đơn Lại Thị Tố U và Giang Thu V. NỘI DUNG VỤ ÁN * Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà có cho các b đn vay tin theo các biên nhn nh sau: - Bà V: ngày 07/8/2009 vay 25.000.000đ; ngày 11/3/2010 vay 3.000.000đ; ngày 02/8/2010 vay 50.000.000đ; ngày 26/9/2011 vay 50.000.000đ; ngày 23/11/2012 vay 10.000.000đ; ngày 23/7/2013 vay 30.000.000đ. - Ông D, bà T: ngày 15/9/2012 vay 160.000.000đ; ngày 29/9/2012 vay thêm 50.000.000đ; ngày 03/10/2012 vay thêm 50.000.000đ. - Bà V, Ông D, bà T: ngày 30/5/2011 xác nhn n 600.000.000đ. - Bà U: 02 biên nhn ngày 26/5/2010 và 20/8/2010 nhn 600.000.000đ. Nguyên đn yêu cu: Bà V tr 168.000.000đ; Bà U, bà T, Ông D liên đi tr 260.000.000đ; Bà U, V, T, Ông D liên đi tr 1.200.000.000đ, không yêu cu tính lãi. * Các bị đơn trình bày: + Bà V cho rng: Biên nhn ngày 07/8/2009 có ghi chú ngày 11/3/2010 tng s tin 28.000.000đ; Biên nhn ngày 02/8/2010 s tin 50.000.000đ; Biên nhn ngày 26/9/2012 có ghi chú nhn thêm 10.000.000đ ngày 23/11/2012; Biên nhn ngày 23/7/2013 s tin 30.000.000đ. Bà V tha nhn có vay nhiu ln, nhng đã tr nhiu đt. Biên nhn ngày 14/5/2012 th hin “biên nhn này xác đnh sau cùng ca hai bên v s tin thc t” và trong biên nhn này cũng th hin 03 khon tin. Ngoài tin mn nhiu đt vi tng s tin 168.000.000đ thì còn li 02 khon tin cht theo biên nhn ngày 26/5/2010 và xác nhn ngày 20/8/2010. Do đó t biên nhn này thì các chng c vay mn ca bà L và bà trc đó không còn giá tr. Vì vy bà không đồng ý yêu cu ca nguyên đn. + Bà U, bà T, Ông D: không đng ý liên đi tr 260.000.000đ, vì sau thi gian xác lp biên nhn ngày 14/5/2012. Ngoài ra trong các giy t bút tích ca bà L có t ghi T, V n vn tháng 11/2013 là 982.550.000đ. S tin này đc xác lp sau, nhng nguyên đn dùng chng c trc đó đ buc b đn là không có c s. + Đi vi yêu cu bn b đn liên đi tr 1.200.000.000đ: Giy xác nhn ngày 30/5/2011 ghi 400.000.000đ chính là khon tin nm trong giy xác nhn 20/8/2010 và khon tin theo xác nhn ngày 20/8/2010 là khon tin vay Ngân hàng theo biên nhn ngày 14/5/2012 đc hai bên xác lp còn li 341.364.000đ, đây chính là bng đi chiu n gia hai bên. Cũng chính khon tin này thc t bà V giao dch vi nguyên đn, nên ti giy xác nhn ngoài vic Bà U ký thì cũng có ch ký ca Bà V. Chng t thc t s tin bà V nhn, nên xác lp theo biên nhn ngày 14/5/2012. Vì vy không có c s buc bà U liên đi tr n theo biên nhn ngày 30/5/2011. Phía b đn không chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên đn. Vụ việc hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đưa ra xét xử; tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2019/DS-ST ngày 08/4/2019 đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. - Buộc bà Giang Thu V phải trả cho bà Nguyễn Thị L 168.000.000đ. - Buộc bà Giang Thanh T, ông Lê D, bà Giang Thu V liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L 600.000.000đ. - Buộc bà Giang Thanh T, ông Lê D, bà Giang Thu V, bà Lại Thị Tố U liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L 600.000.000đ. - Buộc bà Giang Thanh T, ông Lê D, bà Lại Thị Tố U liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L 260.000.000đ. Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi chậm thực hiện nghĩa vụ; thời điểm hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm để nguyên đơn được nhận lại số tiền nộp bảo đảm; án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 20/4/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bà U liên đới trả cho bà số tiền 600 triệu theo biên nhận ngày 30/5/2011. Ngày 22/4/2019 bị đơn bà Lại Thị Tố U kháng cáo cho rằng: cấp sơ thẩm buộc bà trả khoản nợ 600 triệu theo biên nhận ngày 26/5/2010 và giấy xác nhận ngày 20/8/2010 là không phù hợp. Vì theo giấy xác nhận ngày 30/5/2011 thì nghĩa vụ của bà đã được chuyển giao cho bà V, bà T và ông D rồi, nên bà không còn trách nhiệm nữa; Bà Giang Thu V kháng cáo cho rằng: nguyên đơn dùng biên nhận ngày 14/5/2012 và các giấy nháp nhỏ lẻ không đảm bảo chỉ số tài chính, không đủ cơ sở làm chứng cứ khởi kiện; dùng những biên nhận cũ xác lập giao dịch trước để buộc bị đơn có nghĩa vụ là không phù hợp; yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì chứng cứ cung cấp không còn giá trị. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo xác định vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; Các đương sự khác vẫn giữ ý kiến như đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm. Kim sát viên phúc thm phát biu ý kin: V t tng, v án này đc Tòa án cp s thm thu thp chng c ly li khai nguyên đn (s thm ln 1) nên có Vin kim sát cùng cp tham gia phiên tòa theo khon 2 Điu 21 B lut t tng dân s năm 2004 (sa đi, b sung năm 2011). V án b cp phúc thm hy. Ngày 07/9/2017 Tòa án cp s thm th lý li và không tin hành thu thp chng c, nhng h s ban đu đã có ly li khai đng s nên thuc trng hp Vin kim sát phi tham gia phiên tòa theo khon 2 Điu 21 B lut t tng dân s năm 2015. Nhng khi xét x s thm li, cp s thm không chuyn h s cho Vin kim sát tham gia phiên tòa là vi phm t tng. V ni dung: h s có nhiu biên nhn n và t xác nhn n, các đng s không thng nht vi nhau, cũng nh li khai ca nguyên đn v tng s n mà b đn thiu ch có 1.228.000.000đ ch không phi 1.628.000.000đ nh án s thm tuyên; hoc buc mt s b đn liên đi tr n trong khi h không có ký nhn. Chính t vic cp s thm không đi cht làm rõ các biên nhn này mà buc các b đn tr n theo yêu cu ca nguyên đn là thit thòi quyn li ca các b đn, không có c s vng chc đ buc các b đn tr n cho nguyên đn. T nhng vi phm v t tng và ni dung nh đã nêu, đ ngh áp dng khon 3 Điu 308 B lut t tng dân s hy toàn b bn án s thm, giao h s v cp s thm gii quyt li. Tip tc duy trì Quyt đnh áp dng bin pháp khn cp tm thi và Quyt đnh buc thc hin bin pháp bo đm ca Tòa án cp s thm. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Về thủ tục tố tụng: [1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả các khoản tiền vay, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là các biên nhận nợ có chữ ký của các bị đơn. Các biên nhận nợ thể hiện tính đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện về hợp đồng vay tài sản đã hết. Vì vậy cấp sơ thẩm căn cứ Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định quan hệ tranh chấp “Đòi lại tài sản” theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là có căn cứ. Tuy nhiên, vụ án này cấp sơ thẩm thụ lý lần đầu ngày 07/7/2015, có tiến hành thu thập chứng cứ theo đim a khon 2 Điu 85 B lut t tng dân s 2004 (sa đi, b sung năm 2011), nên khi đa ra xét x có Vin kim sát cùng cp tham gia phiên tòa theo quy đnh ti khon 2 Điu 21 B lut trên. Sau khi xét x s thm, phía b đn có kháng cáo nên ngày 26/5/2017 Tòa án cp phúc thm x tuyên hy toàn b bn án s thm giao v cp s thm gii quyt li. Mc dù quá trình gii quyt li v án, cp s thm không thc hin vic thu thp chng c. Nhng đây là án b cp phúc thm hy đ gii quyt s thm li, h s ban du Tòa án có ly li khai đng s thuc trng hp có Vin kim sát tham gia phiên tòa. Vì vy khi xét x s thm li, vn phi tuân th theo quy đnh ti khon 2 Điu 21 B lut t tng dân s năm 2015. Th nhng cp s thm không chuyn h s cho Vin kim sát cùng cp tham gia phiên tòa là vi phm th tc t tng. * Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và bị đơn bà Giang Thu V, bà Lại Thị Tố U đều có đơn kháng cáo. Xét rằng: [2] Đối với kháng cáo của bà Giang Thu V: Tại phiên tòa phúc thẩm lần 1, bị đơn cho rằng số tiền của hai biên nhận ngày 26/5/2010 và 20/8/2010 đã được hai bên xác nhận nợ lại vào ngày 30/5/2011 với số tiền 600.000.000đ. Đến ngày 14/5/2012 hai đã đối chiếu số nợ còn lại, theo đó khoản vay Ngân hàng 400.000.000đ (nằm trong xác nhận 30/5/2011) còn lại là 341.364.000đ; khoản vay 200.000.000đ theo xác nhận ngày 30/5/2011 còn lại là 81.120.000đ. Để chứng minh cho lời khai này, bị đơn có cung cấp chứng cứ là “Biên nhận ngày 14/5/2012 và những tờ giấy nháp, giấy lịch, giấy caro, giấy tập…” ghi lại quá trình trả nợ gốc, lãi của bị đơn mà theo bị đơn đó là “bút tích” của nguyên đơn. Các chứng cứ bị đơn mới xuất trình có sự chênh lệch lớn về số tiền bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn theo Bản án sơ thẩm số 36/2016/DSST ngày 10/6/2016 của Tòa án cấp sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm để tiến hành đối chất làm rõ. Tuy nhiên, sau khi thụ lý lại Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc đối chất giữa các đương sự theo như bản án phúc thẩm lần 1 đã chỉ ra, nên phán quyết thiếu căn cứ. [3] Đối với kháng cáo của bà Lại Thị Tố U cho rằng án sơ thẩm buộc bà trả nợ theo hai biên nhận ngày 26/5/2010 và 20/8/2010 với số tiền 600.000.000đ là chưa khách quan, vì hai khoản tiền này đã được xác nhận lại bằng xác nhận ngày 30/5/2011 và trách nhiệm trả nợ đã được chuyển giao cho các con bà. Đánh giá luận điểm này, thấy rằng: Chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để yêu cầu các bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 1.200.000.000đ là các biên nhận: ngày 26/5/2010 với số tiền 200.000.000đ; ngày 20/8/2010 với số tiền 400.000.000đ và ngày 30/5/2011 với số tiền 600.000.000đ. Qua xem xét nội dung các tài liệu này, cho thấy: [3.1] Nội dung “Giấy xác nhận ngày 20/8/2010” (BL 95) thể hiện sự thỏa thuận Bà U chuyển nhượng một phần căn nhà Mậu T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cho bà L. Nhưng khi tiến hành thủ tục chuyển nhượng mới biết không tách thửa được, nên đã thỏa thuận lại Bà U làm thủ tục sang tên toàn bộ diện tích căn nhà cho bà L và bà L thế chấp căn nhà cho Ngân hàng để vay 600.000.000đ (trong đó phần Bà U 400.000.000đ) lãi suất 2%/tháng. Đồng thời tại “Giấy xác nhận ngày 30/5/2011” (BL 97) bà L viết: Do bà đã đứng tên toàn bộ thửa đất tại số Mậu T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Nay Bà U và các con cần vốn để làm ăn nên bà có đứng ra vay cho Bà U số tiền 600.000.000đ với 400.000.000đ lãi suất Ngân hàng là 24%/năm, còn lại 200.000.000đ lãi suất 5%/tháng, số tiền này được đảm bảo bằng căn nhà và đất 1C5 Mậu Thân. Qua ni dung hai giy xác nhn trên cho thy có s trùng hp v s tin vay 400.000.000đ, v mc lãi sut và v tài sn đm bo nghĩa v tr n ca Bà U. Vì vy Bà U kháng cáo cho rng trong s tin vay theo giy ngày 30/5/2011 có 400.000.000đ đã đc ghi nhn theo giy ngày 20/8/2010 là có c s. Mt khác “Biên nhn tin ngày 26/5/2010” (BL 96) bà T, Ông D không ký tên nhn n nhng cp s thm vn buc h liên đi tr n là không có căn c. Ngoài ra, theo Bn án s thm s 01/2016/DSST ngày 06/01/2016 (v tranh chp chuyn nhng nhà, đt) bà L đã khai: ngày 26/5/2010 Bà U tha thun vay 200.000.000đ, ngày 20/8/2010 Bà U vay thêm 400.000.000đ, ngày 30/5/2011 Bà U, Vân, Thu, Ông D vay thêm 200.000.000đ và xác đnh tng các khon n phía b đn còn thiu bà là 1.228.000.000đ. Chính t vic cp s thm cha cho đi cht gia các bên đ làm rõ nhng vn đ nh bn án phúc thm ln 1 phân tích, nên quyt đnh ca bn án ln này cha đ căn c vng chc. [3.2] Bà U, Bà V đu cho rng Biên nhn ngày 14/5/2012 (BL 193) là hai bên đã kt n li thành ba khon n, trong đó gm các khon n trên và hai biên nhn ngày 26/5/2010 + ngày 20/8/2010 có ghi“ Biên nhn này xác đnh sau cùng ca hai bên v s tin thc t”. Nhng qua đi chiu các khon n thì s tin đi vi khon n th ba là 81.120.000đ cha rõ là khon vay nào? Nguyên đn không tha nhn biên nhn này, cũng nh s tin ca hai biên nhn ngày 26/5/2010 và ngày 20/8/2010 nguyên đn không tha nhn Bà V vay mà là ca Bà U vay. Chứng cứ do các bên cung cấp còn có mâu thuẫn, nhưng cấp sơ thẩm chưa cho đối chất làm rõ như đã nhận định trên, nên chưa đủ cơ sở để giải quyết. T nhng vi phm v t tng và ni dung nh đã phân tích. Xét kháng cáo ca phía b đn có căn c, cn thit phi hy bn án s thm nh đ ngh ca Kim sát viên phúc thm, giao v cp s thm gii quyt li đ đm bo quyn và li ích hp pháp ca các bên đng s. Ni dung kháng cáo ca nguyên đn s đc xem xét khi cp s thm gii quyt li v án. [4] Tip tc duy trì Quyt đnh áp dng bin pháp khn cp tm thi s 04/2016/QĐ-BPKCTT ngày 22/01/2016 và Quyt đnh buc thc hin bin pháp bo đm s 03/2016/QĐ-BPBĐ ngày 15/01/2016 ca Tòa án nhân dân qun Ninh Kiu theo th tc chung. [5] Về án phí: Các đương sự chưa phải chịu án phí sơ và phúc thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuyên xử: 1/- Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 20/2019/DS-ST ngày 08/4/2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh kiều xét xử vụ án: “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn bà Lại Thị Tố U, bà Giang Thanh T, bà Giang Thu V, ông Lê D; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật. 2/- Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2016/QĐ-BPKCTT ngày 22/01/2016 và Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 03/2016/QĐ-BPBĐ ngày 15/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo thủ tục chung. 3/- Về án phí: Các đương sự chưa phải chịu án phí sơ và phúc thẩm. Hoàn trả lại tạm ứng án phí kháng cáo cho nguyên đơn theo biên lai số 000382 ngày 24/4/2019; cho bị đơn bà Lại Thị Tố U theo biên lai số 000366 và bà Giang Thu V theo biên lai số 000367 cùng ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND.TPCT - TAND.Q.Ninh Kiều. - Chi cục THADS.Ninh Kiều. - Lưu (HS - 2b). Trần Tuấn Quốc | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |