vanban.org

Bản án 202/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 10/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Phạm Hữu H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 áp dụng đối với bị cáo T và bị cáo H ; Điều 33 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phạm THANH T 30 (Ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/03/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Phạm Hữu H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------
Bản án số: 202/2017/HSST
Ngày: 10/08/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Đình Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc

Ông Nguyễn Văn Khanh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:

Ông Lê Đăng Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10/08/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2017/HSST ngày 12/7/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2017/QĐ – HSST ngày 26/7/2017 đối với các bị cáo

1. PHẠM THANH T - sinh năm: 1986; HKTT: Số x – phường G – quận Long Biên – Hà Nội; chỗ ở: Như trên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Ngọc H và bà: Nguyễn Thị T; vợ: Nguyễn Thị Ngọc N(Đã ly hôn) Có 01 con sinh năm 2011; TATS: Theo danh chỉ bản số 264 ngày 07/4/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền án, 03 tiền sự.

Tiền án:

Bản án số 323 ngày 07/8/2006, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Lừa đảo C ếm đoạt tài sản. Ngoài ra, bản án còn tuyên Phạm THANH T phải nộp 7.550.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xác minh tại C cục THADS quận Hai Bà Trưng được cung cấp: Phạm T đã nộp khoản tiền 7.550.000 đồng và 50.000 đồng án phí tại biên lai số 9685 ngày 15/6/2006. (Đã được xóa án tích)

03 Tiền sự:

- Tháng 12/2005, Công an quận Đống Đa xử phạt hành chính về hành vi Lạm dụng tín nhiệm C ếm đoạt tài sản.

- Tháng 12/2008, PC14 – Công an TP Hà Nội xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự.

- Tháng 4/2013, Công an phường Cửa Đông, quận H Kiếm xử lý hành chính về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ.

Bị cáo bị bắt ngày 30/3/2017 (Có mặt).

2. HOÀNG THỊ LINH C - sinh năm: 1994; HKTT: Khu V – phường Q – thị xã Quảng Yên – tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Như trên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Tự do; Con ông: H g Đức T và bà: Nguyễn Thị B; TATS: Theo danh chỉ bản số 263 ngày 07/4/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt ngày 30/3/2017 (Có mặt).

3. PHẠM HỮU H - sinh năm: 1981; HKTT: Số 9 Tổ 1 phường Thượng Thanh – quận Long Biên – Hà Nội; chỗ ở: Như trên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Phạm Hữu C (C) và bà: Lại Thị Đ; TATS: Theo danh chỉ bản số 253 ngày 02/4/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự.

Tiền án: Bản án số 317 ngày 07/9/2012, TAND quận Long Biên xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Phạm Hữu H 4.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xác minh tại C cục THADS quận Long Biên được cung cấp: Phạm Hữu H đã nộp phạt 4.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí theo biên lai số 2434 ngày 07/9/2012. (Đã được xóa án tích)

Tiền sự: Tháng 4/2015, Công an phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt ngày 30/3/2017 (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Mạnh T – SN: 1975.

HKTT: K - Gia Lâm – Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h ngày 30/3/2017, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Long Biên phối hợp cùng Công an phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính phòng 401 nhà nghỉ Gia Bảo, địa chỉ: Số 43/12 Bồ Đề, phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Khi cơ quan công an kiểm tra, trong phòng lúc này có ba người gồm: Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C và Phạm Hữu H . Quá trình kiểm tra, cơ quan công an phát hiện tại mái hiên phía sau bên dưới phòng 401 nhà nghỉ Gia Bảo có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 07 viên nén màu nâu, hình tròn in logo Channel, 01 túi nilon màu trắng chứa 13 viên nén màu nâu, hình tròn, 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ tẩu hút tự tạo đầu coóng thủy tinh bị vỡ. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đen, bị vỡ màn hình; thu giữ của H 01 xe máy nhãn hiệu Honda màu đen, BKS: 29N1-007.99, 01 điện thoại di động Iphone màu đen bị vỡ màn hình, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh.

Theo Kết luận giám định số 3171 ngày 25/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy, loại methamphetamine, tổng trọng lượng: 1,112 gam;

- 07 viên nén hình tròn màu nâu có lô gô Channel “)(“ đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 1,927 gam, hàm lượng 23,1%;

- 13 viên nén hình tròn màu nâu đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 3,134 gam, hàm lượng 21,3%;

- 01 bộ tẩu tự tạo có dính ma túy loại methamphetamine.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C và Phạm Hữu H thừa nhận 01 túi nilon màu trắng chứa 07 viên nén màu nâu, hình tròn in logo Channel, 01 túi nilon màu trắng chứa 13 viên nén màu nâu, hình tròn là của Phạm THANH T và H g Thị Linh C , còn 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (ma túy đá) là của Phạm Hữu H .

Cũng tại cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Phạm THANH T và Hoàng Thị Linh C khai nhận:

C ều tối ngày 28/3/2017, Phạm THANH T và Hoàng Thị Linh C (C là người yêu của T ) thuê phòng 401 – Nhà nghỉ Gia Bảo, địa chỉ: phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội ở cùng nhau. C ều ngày 29/3/2017, C liên lạc với bạn xã hội tên là Hùng để hỏi về khoản nợ 3.000.000 đồng mà Hùng đã vay của T vài ngày trước đó (do C đứng ra bảo đảm). Lát sau, Hùng đến phòng 401 – nhà nghỉ Gia Bảo gặp C , T . Khi gặp nhau, Hùng lấy ra 01 túi nilon chứa ma túy đá để cả ba cùng sử dụng. Sau đó, T , C hỏi Hùng về số tiền 3.000.000 đồng mà Hùng đã vay, Hùng nói không có tiền, đồng thời Hùng lấy ra 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều viên nén màu nâu, in logo Channel và nói với T , C đây là ma túy kẹo, số lượng là 140 viên, cần tìm nơi bán với giá 150.000 đồng/01 viên. Hùng nói nếu bán được mới có đủ tiền để trả nợ cho T và nhờ T , C tìm nơi bán số ma túy trên. Sau đó, Hùng lấy 01 túi nilon nhỏ màu trắng, cho vào đó khoảng 10 viên ma túy in logo Channel, đưa cho C cầm để làm hàng mẫu khi có người hỏi mua. T , C đồng ý. T liên lạc qua mạng xã hội với Phạm Hữu H nhờ H tìm nơi bán 140 viên ma túy kẹo, còn nếu H mua toàn bộ thì T sẽ bán cho H với giá 170.000 đồng/01 viên. Khi T đặt vấn đề với H thì H từ chối không mua. Khoảng 06h ngày 30/3/2017, Hùng có việc về Quảng Ninh, trước khi về, Hùng lấy 01 túi nilon nhỏ bên trong chứa khoảng 10 viên nén màu nâu là ma túy kẹo đưa cho T và nói với T , C bán số ma túy Hùng để lại để lấy tiền trả phòng. Đồng thời Hùng dặn nếu không tìm được nơi bán thì Hùng bảo người em tên Thọ sang lấy và sẽ trả cho T , C số tiền 3.000.000 đồng. T , C hiểu rằng Hùng đưa khoảng 20 viên ma túy để T , C bán đi trừ nợ số tiền 3.000.000 đồng mà Hùng đã vay. Khoảng 13h ngày 30/3/2017, sau khi được T rủ đến phòng 401 nhà nghỉ Gia Bảo, H lấy một đoạn ống nhựa và 01 coóng thủy tinh, còn T lấy bình nhựa trong phòng tạo thành 01 bộ tẩu hút tự tạo. Tiếp đến, H lấy ra 01 túi ma túy đá của H rồi cùng T , C sử dụng chung. Khi H , C , T đang ở trong phòng thì bạn xã hội của C tên Hải và một người bạn của Hải đến chơi. Tại đây, C đưa cho Hải 02 viên ma túy “kẹo” có logo Channel làm mẫu, nếu ai hỏi mua thì giới thiệu với C , giá bán 150.000 đồng/01 viên. Sau đó, Hải cầm 02 viên ma túy “kẹo” ra về cùng người bạn đi cùng. Lúc này T lấy 01 viên ma túy “kẹo” in logo Channel rồi cùng H sử dụng mỗi người một nửa viên. Đến khoảng 16h ngày 30/3/2017, khi T , C , H đang sử dụng ma túy đá ở trong phòng 401 thì cơ quan công an kiểm tra. Thấy vậy, C , T , H đã cùng nhau ném toàn bộ số ma túy trên qua cửa sổ phòng 401 xuống mái tôn phía sau nhưng đã bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Hữu H khai nhận: Khi Phạm THANH T rủ H đến phòng 401 nhà nghỉ Gia Bảo chơi, T nói hết đồ và bảo H thiết kế, H hiểu là ở phòng T nghỉ không còn ma túy đá và T bảo H đi mua ma túy đá để mang lên phòng cùng sử dụng chung. H điều khiển xe máy BKS: 29N1-007.99 đến khu vực cầu Chui, phường Gia Thụy, quận Long Biên gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 800.000 đồng tiền ma túy đá. Theo thỏa thuận, người đàn ông này bán cho H 02 túi nilon chứa ma túy đá với trọng lượng 1 gam. H không kiểm tra lại trọng lượng mà cất luôn vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe máy đi đến nhà nghỉ Gia Bảo như đã hẹn với T . Lúc vào phòng có C , T . H quan sát thấy trên bàn có 02 túi nilon đựng các viên nén màu nâu (là ma túy kẹo) đồng thời vào tối ngày 29/3/2017, T liên lạc qua mạng xã hội với Phạm Hữu H nói chuyện về việc T đang có 140 viên ma túy kẹo cần bán, nếu H mua toàn bộ thì T sẽ bán cho H với giá 170.000 đồng/01 viên. Khi T hỏi như vậy, H từ chối không mua. Tại đây, H lấy ra 01 túi ma túy đá vừa mua được để sử dụng cùng T , C . Sau đó, T lấy 01 viên ma túy kẹo cùng H sử dụng. Khoảng 15h cùng ngày, có 02 nam thanh niên đến nói chuyện với T , C về ma túy kẹo rồi ra về. Đến khoảng 16h cùng ngày, biết bị cơ quan công an vào kiểm tra, T , C , H ném tất cả số ma túy trên bàn và cả số ma túy trong người H qua cửa sổ phòng 401 xuống mái tôn phía sau phòng 401 nhưng sau đó bị phát hiện như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo T , C và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bản cáo trạng số: 199/KSĐT ngày 10/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, Phạm Hữu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị

Phạm THANH T , Hoàng Thị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của các Linh C

đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Phạm Hữu H đã đủ yếu tố cấu thành

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. tội

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46(Khoản 2 Điều 46 đối với bị cáo T , H ); Điều 41; Điều 33 của BLHS. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội đối với bị cáo H .

Về hình phạt đề nghị xử phạt các bị cáo với mức án sau:

- Bị cáo T từ 30 - 36 tháng tù.

- Bị cáo C từ 28 - 32 tháng tù.

- Bị cáo H từ 24 - 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu, tiêu hủy 1,112 gam methamphetamine, 07 viên nén hình tròn màu nâu có logo Channel “)(“ đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 1,927 gam 13 viên nén hình tròn màu nâu đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 3,134 gam và 01 bộ tẩu tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.

Đề nghị cho tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu đen, bị vỡ màn hình thu của bị cáo T và 01 điện thoại di động Iphone màu đen bị vỡ màn hình, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh thu của bị cáo H .

Nói lời sau cùng, các bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Xét lời khai nhận của các bị cáo T , C và H tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.

Khoảng 16h ngày 30/3/2017, tại phòng

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: 401 nhà nghỉ Gia Bảo, phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội, bị cáo Phạm THANH T , bị cáo Hoàng Thị Linh C có hành vi tàng trữ trái phép 07 viên nén hình tròn màu nâu có lô gô Channel đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 1,927 gam, hàm lượng 23,1% và 13 viên nén hình tròn màu nâu đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 3,134 gam, hàm lượng 21,3% mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ còn Phạm Hữu H có hành vi tàng trữ trái phép 1,112 gam methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi của các bị cáo Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy; hành vi của bị cáo Phạm Hữu H có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo T , C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo H về tội : “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo T đã có 01 tiền án và 03 tiền sự: bản án số 323 ngày 07/8/2006, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Lừa đảo C ếm đoạt tài sản. Ngoài ra, bản án còn tuyên Phạm THANH T phải nộp 7.550.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xác minh tại C cục THADS quận Hai Bà Trưng được cung cấp: Phạm T đã nộp khoản tiền 7.550.000 đồng và 50.000 đồng án phí tại biên lai số 9685 ngày 15/6/2006 và 03 tiền sự: Tháng 12/2005, Công an quận Đống Đa xử phạt hành chính về hành vi Lạm dụng tín nhiệm C ếm đoạt tài sản.Tháng 12/2008, PC14 – Công an TP Hà Nội xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự.Tháng 4/2013, Công an phường Cửa Đông, quận H Kiếm xử lý hành chính về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ theo luật định tiền án, tiền sự đã được xóa. Nhân thân bị cáo C chưa có tiền án, tiền sự. Nhân thân bị cáo H có 01 tiền án và 01 tiền sự: Bản án số 317 ngày 07/9/2012, TAND quận Long Biên xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Phạm Hữu H 4.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xác minh tại C cục THADS quận Long Biên được cung cấp: Phạm Hữu H đã nộp phạt 4.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí theo biên lai số 2434 ngày 07/9/2012, Tiền sự: Tháng 4/2015, Công an phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã xóa. Mặc dù các tiền án, tiền sự của các bị cáo T và H đã được xóa nhưng HĐXX đánh giá các bị cáo T và H có nhân thân xấu.

Xét về hành vi, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm các bị cáo đã gây ra thấy cần phải áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Trong vụ án đồng phạm Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo T và C đều giữ vai trò thực hành, nhân thân bị cáo T xấu nên để mức án cao hơn so với bị cáo C là phù hợp, có căn cứ. Còn bị cáo H Tàng trữ trái phép chất ma túy nên để mức án thấp hơn và HĐXX áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo H theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm p Khoản 1 Điều 46 BLHS. Bố bị cáo T được thưởng nhiều Huân huy chương C ến sỹ vẻ vang hạng Ba và hạng Nhất, bố bị cáo H là thương binh đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 BLHS đối với các bị cáo T và H .

Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: xét thấy các bị cáo nghiện chất ma túy. Không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về vật chứng:

1,112 gam methamphetamine, 07 viên nén hình tròn

- Cho tịch thu, tiêu hủy màu nâu có logo Channel “)(“ đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 1,927 gam, hàm lượng 23,1%; 13 viên nén hình tròn màu nâu đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 3,134 gam, hàm lượng 21,3%; 01 bộ tẩu tự tạo có dính ma túy loại methamphetamine thu của các bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm.

- Cho tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu đen, bị vỡ màn hình thu của bị cáo T ; 01 điện thoại di động Iphone màu đen bị vỡ màn hình thu của bị cáo H sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy; trả lại bị cáo H

01 điện thoại di động Nokia màu xanh do không liên quan đến tội phạm nhưng cho tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX. Riêng đối với C ếc điện thoại di động Nokia màu xanh do không liên quan đến tội phạm nên HĐXX cho thi hành trả lại bị cáo H .

Đối với C ếc xe máy Honda màu đen, BKS: 29N1-007.99 Cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại anh H g Mạnh T C ếc xe trên vào ngày 21/6/2017. Anh T không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với thanh niên tên Hùng, Hải: do C , T khai không biết tên thật, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra chưa có điều kiện để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp, có căn cứ.

Đối với người bán ma túy cho H : do H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra chưa có điều kiện để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp, có căn cứ.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự. bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phạm THANH T , Hoàng Thị Linh C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Phạm Hữu H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 áp dụng đối với bị cáo T và bị cáo H ; Điều 33 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội đối với bị cáo H .

Xử phạt: Phạm THANH T 30 (Ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/03/2017.

Xử phạt: Hoàng Thị Linh C 28 (Hai mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/03/2017.

Xử phạt: Phạm Hữu H 25 (Hai mươi lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/03/2017.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự và Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy 1,112 gam methamphetamine, 07 viên nén hình tròn màu nâu có logo Channel “)(“ đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 1,927 gam, hàm lượng 23,1%; 13 viên nén hình tròn màu nâu đều có thành phần Delta – 9 – Tetrahydrocanabinol, tổng trọng lượng 3,134 gam, hàm lượng 21,3% và 01 bộ tẩu tự tạo có dính ma túy loại methamphetamine.

Toàn bộ số tang vật trên hiện có tại Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 21/6/2017

Cho tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu đen, bị vỡ màn hình thu của bị cáo T ; 01 điện thoại di động Iphone màu đen bị vỡ màn hình thu của bị cáo H sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.

Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động Nokia màu xanh do không liên quan đến tội phạm nhưng cho tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Tang vật trên hiện có tại C cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/7/2017).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.

Các bị cáo T , C , H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.

Cỡ chữ