vanban.org

Bản án 2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị LTH, cho chị LTH được ly hôn anh DPT.

[2]. Về con chung: Không có. [3]. Về tài sản chung: Chị LTH và anh DPT không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị LTH và anh DPT có tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị LTH, cho chị LTH được ly hôn anh DPT.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:
/HNGĐ-ST
Ngày 19/11/2018
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương.

2. Ông Trần Mạnh Khang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thành - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 278/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2018 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02/11/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị LTH, sinh năm 1993

Địa chỉ: Khu 3, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên toà.

2. Bị đơn: Anh DPT, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Khu 5, tttt, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện, Bản tự khai quá trình tố tụng và tại phiên toà,

nguyên đơn là chị LTH trình bày:

Tôi và anh DPT, sinh năm 1992 đăng ký kết hôn vào tháng 10 năm 2017 tại trụ sở UBND thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. sống chung với nhau từ ngày 22/11/2017 đến ngày 04/6/2018 do tình cảm vợ chồng không còn mâu thuẫn phát sinh do khác biệt quan điểm sống, anh T còn chơi bời đi sớm về muộn khiến cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được chúng tôi đã ly than từ ngày 05/6/2018 cho đến nay.

Về tình cảm vợ chồng: Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi xin ly hôn anh DPT.

Về con chung: Không có. Hiện nay tôi không có thai.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Tại biên bản xác minh ngày 15/10/2018 tại UBND TTTT bà Nguyễn Thị Dung tư pháp thị trấn Trạm Trôi cung cấp:

Chị LTH và anh DPT có đăng ký kết hôn vào tháng 10/2017 tại UBND thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Qua nắm bắt tình hình tại địa phương thì chị H và anh T sau khi kết hôn được khoảng 04 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T ham chơi bời cờ bạc không quan tâm đến gia đình và chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn còn thiếu ý thức chấp hành pháp luật.

Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị LTH với anh DPT.

-Về con chung: không có.

-Về tài sản chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị LTH không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đó được xem xét tại phiên

tũa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Anh DPT hiện đang cư trú tại: Khu 5, tttt, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

- Bị đơn anh DPT đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Chị LTH và anh DPT kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị LTH và anh DPT là hợp pháp.

Sau kết hôn, vợ chồng chung sống H phúc đến tháng 6 năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không có H phúc, anh T chơi bời, cờ bạc không quan tâm đến gia đình. Từ tháng 6/2018 đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương và đã hòa giải nhiều lần nhưng anhtranhscoos tình trốn tránh, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T vẫn không được cải thiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Chị LTH và anh DPT đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị LTH phải nộp án phí ly hôn sở thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 207, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giam, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị LTH, cho chị LTH được ly hôn anh DPT.

[2]. Về con chung: Không có.

[3]. Về tài sản chung: Chị LTH và anh DPT không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị LTH phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0008250 ngày 07/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị LTH có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh DPT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ