vanban.org

Bản án 201/2025/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/11/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị T. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Hà Thị T - Lê Huy Việt A"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2025/DS-PT
Ngày: 21 - 11 - 2025.
V/v: Tranh chấp về bồi
thường thiệt hại do sức khỏe
bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.

Các Thẩm phán:

Ông: Hoàng Văn Giang.

Bà: Lý Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Hoàng Ánh Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 162/2025/QĐPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1959. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ A, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Nguyễn Hà Q, sinh năm 1979. Có mặt.

Địa chỉ: 3 khu phố H, phường T, tỉnh Bình Dương (nay là 3 khu phố H, phường T, thành phố Hồ Chí Minh).

- Ông Vũ Tiến D, sinh năm 1975. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ A, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bị đơn: Anh Lê Huy Việt A, sinh năm 2000. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ B, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hà Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/08/2024, tại đèn xanh đỏ Quan Triều bà T đi xe đạp theo hướng từ cổng Công ty Giấy Hoàng Văn T1 sang đường để vào chợ Q1. Khi đi sang hết phần đường thì bị xe ô tô tải BKS: 20C-158.02 do anh Lê Huy V A điều khiển do không quan sát đã đâm vào bà ngã ra đường. Sau khi bà đi chụp chiếu thì bị đứt hoàn toàn dây chằng chéo trước, rách sụn chêm trong và ngoài gối phải, rách bao sơ đĩa đệm L5/S1. Sau đó gia đình anh A xin giải quyết tình cảm và không thông báo cho cơ quan Công an biết vụ việc.

Ngày 01/10/2024, Công an thành phố T ra quyết định trưng cầu giám định về tổn hại sức khoẻ do tai nạn giao thông gây ra đối với bà Hà Thị T, sinh năm 1959, HKTT: Tổ B, phường Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên. Tại kết luận giám định pháp y số 735/KLTTCT-TTPY ngày 08/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Đứt dây chằng chéo trước, tổn thương sụn chêm, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Thị T tại thời điểm giám định là 34% (Ba mươi tư phần trăm).

Cơ quan Công an lập biên bản thông báo kết quả xác minh lỗi do anh A điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông. Sau nhiều lần cơ quan công an cho hai gia đình gặp gỡ giải quyết tình cảm nhưng vẫn không thống nhất được hướng giải quyết do gia đình anh A không thiện chí cùng nhau gánh vác. Hiện tại bà T đã đi khám và chữa trị tại Bệnh viện Đ. Tại đây bác sĩ chẩn đoán qua hình ảnh phim cộng hưởng từ là bị vỡ sụn chêm và phải thay khớp gối với chi phí từ 120 đến 160 triệu đồng. Do bà T đã có tuổi và làm nghề tự do nên kinh tế rất khó khăn không đủ kinh phí để mổ và điều trị. Vậy, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng pháp luật, yêu cầu anh A phải bồi thường tổn hại 34% sức khỏe cho bà T, cụ thể:

1. Bồi thường và chi trả ngay tiền mổ thay khớp gối do hiện nay kinh tế gia đình rất khó khăn không đủ kinh phí để mổ là 120 triệu đồng.

2. Bồi thường và chi trả tiền viện phí, tiền chụp chiếu, tiền đi lại khám bệnh cụ thể là:

- Chụp cộng hưởng từ tại Phòng khám Đ1 - Thái Nguyên ngày 16/8/2024: 2.200.000 đồng.

- Bảng kê khám tại Bệnh viện Đ Ngày 17/08/2024: 816.000 đồng.

- Tiếp tục chụp cộng hưởng từ do Cơ quan giám định Pháp y yêu cầu để giám định sức khỏe ngày 01/10/2024: 2.644.000 đồng do gia đình chi trả (hiện giấy tờ và hóa đơn do Đ2 Công an thành phố giữ).

- Hoá đơn tiền thuốc của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên ngày 23/10/2024: 1.202.916 đồng.

- Bảng kê chi phí khám, xét nghiệm, chụp chiếu tại Bệnh viện Đ ngày 04/12/2024: 404.000 đồng và 2.554.000 đồng, tiền thuốc: 1.424.850 đồng.

Tổng các khoản chụp chiếu, khám chữa, thuốc, xét nghiệm là: 11.399.000 đồng.

- Bồi thường thiệt hại kinh tế trong thời gian bà T bị đau không đi làm được và các chi phí sinh hoạt hàng ngày của bà T từ tháng 08/2024 đến tháng 06/2025 tổng là 10 tháng x 3 triệu = 30 triệu đồng.

- Bồi thường tiền cho con trai bà T đã nghỉ làm việc tại Bình Dương để chăm sóc bà T tổng là 10 tháng x 10 triệu = 100 triệu đồng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là: 248.506.105 đồng, tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn và người đại diện yêu cầu bị đơn phải bồi thường là 304.000.000 đồng.

Bị đơn anh Lê Huy Việt A trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Không nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà T. Sự việc xảy ra vào khoảng 08 giờ 30 phút sáng ngày 13/08/2024 tại ngã tư phường Q tại tổ H phường Q TP T anh A điều khiển xe ôtô tải BKS: 20C-158.02 điều khiển đi hướng đường P chuyển hướng rẽ trái vào đường D va chạm với xe đạp do bà Hà Thị T, sinh năm: 1959, nơi đăng ký HKTT: Tổ 02, phường Q, TP T điều khiển đi hướng ngược chiều, hậu quả làm bà T bị ngã ra đường thương tích 34% sức khoẻ nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn trên là do anh A không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông, anh A đã bị công an T ra quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Ngày 21/10/2024, anh A được công an thành phố T mời lên làm việc với gia đình bà Hà Thị T, về phần dân sự chưa thỏa thuận được với nhau đồng thời công an thành phố T có ra thông báo ngày 21/10/2024 đã kết thúc xác minh điều tra và giải quyết vụ tai nạn giao thông.

Sau khi xảy ra tai nạn anh A có đến thăm hỏi gia đình nhà bà T và đồng thời có ý là bồi thường nhà bà T 25.000.000 đồng nhưng bà T không đồng ý. Nay gia đình bà T yêu cầu anh A có trách nhiệm bồi thường và chi trả tiền viện phí, tiền chụp chiếu, tiền đi lại khám bệnh thì anh A không đồng ý bồi thường tiền mổ thay khớp gối 120 triệu của bà T, với lý do: Ngay sau khi xảy ra tai nạn anh A đã đưa bà T đi cấp cứu ở phòng khám H để chụp chiếu, theo kết quả chụp chiếu bà T không bị vấn đề gì về xương khớp, việc bà T thay khớp gối không liên quan đến tai nạn, đối với phiếu kết quả chụp hưởng từ khớp gối phải ngày 16/08/2024 của công ty CP P anh A đồng ý với kết luận là va chạm giao thông dẫn đến đứt dây chằng chéo trước, đụng giật dây chằng bên chày và phần mềm lân cận gối phải. Đối với hình ảnh thoái hoá, thoát vị khớp gối phải anh A xác định bà T tuổi cao già yếu nên bị thoái hóa. Đối với tiền chi trả viện phí tiền chụp chiếu đi lại khám từ ngày 13/08/2024 đến ngày 04/12/2024, tổng số tiền là 11.399.000 đồng anh A không đồng ý, lý do vì gia đình nhà bà T tự đi không thông báo đến anh nên anh không đồng ý trả số tiền trên. Đối với khoản bồi thường thiệt hại do bà T không đi làm được là 30 triệu đồng anh A đồng ý trả cho bà T tiền thiệt hại kinh tế mỗi tháng là 03 triệu đồng (ba triệu đồng), đối với khoản bồi thường cho con trai bà T nghỉ việc ở Bình Dương để chăm sóc bà T là 100 triệu đồng, anh A không đồng ý vì khi bà T bị tai nạn anh A có báo gia đình nhà bà T là anh sẽ là người chăm sóc cho bà T và tiền viện phí anh A sẽ chi trả nhưng gia đình không đồng ý nên anh không chi trả. Nay anh A nhất trí bồi thường cho gia đình bà T là 50 triệu đồng tiền bồi dưỡng tinh thần, tiền thuốc và chiếu chụp, bồi dưỡng sức khoẻ cho bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã quyết định:

Căn cứ vào: khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 584, 585, Điều 590; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T.

Buộc anh Lê Huy Việt A phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bà Hà Thị T số tiền 74.665.766 đ (Bảy mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn bà Hà Thị T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại bản án.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc anh Lê Huy Việt A phải bồi thường thiệt hại cho bà T tổng số tiền là 304.285.000 đồng bao gồm các khoản: tiền mổ thay khớp gối ngày 4/1/2025 là 104.509.150 đồng, tiền mất thu nhập của bà T là 36.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 120.000.000 đồng, tiền thuê xe là 6.000.000 đồng, tiền điều trị phụ là 21.719.888 đồng, tiền khám tại bệnh viện Đ ngày 4/12/2024 là 404.000 đồng và chụp X quang 2.554.000 đồng và tiền thuốc 1.424.850 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ do cơ quan pháp y yêu cầu ngày 01/10/2024 là 2.644.000 đồng, tiền khám điều trị bệnh ngày 26/9/2024 là 6.014.581 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ ngày 10/8/2024 là 2.200.000 đồng, tiền khám tại Bệnh viện Đ ngày 17/8/2024 là 816.000 đồng.

- Bị đơn không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhất trí với bản án sơ thẩm đã tuyên, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng chứng, hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/8/2024, bà T bị xe ô tô tải BKS 20C - 158.02 do anh Lê Huy Việt A điều khiển không quan sát đã đâm vào bà T ngã ra đường. Hậu quả bà T bị đứt dây chằng chéo trước, tổn thương sụn chêm, tỷ lệ thương tật của bà T là 34% (Kết luận giám định pháp y số 735/KLTTCT-TTPY ngày 08/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T). Nguyên nhân tai nạn là do anh A không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông, lỗi hoàn toàn là do anh A và anh A đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, anh A phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà T là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà T đối với anh A gồm: tiền mổ thay khớp gối ngày 4/1/2025 là 104.509.150 đồng, tiền mất thu nhập của bà T là 36.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 120.000.000 đồng, tiền thuê xe là 6.000.000 đồng, tiền điều trị phụ là 21.719.888 đồng, tiền khám tại bệnh viện Đ ngày 4/12/2024 là 404.000 đồng và chụp X quang 2.554.000 đồng và tiền thuốc 1.424.850 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ do cơ quan pháp y yêu cầu ngày 01/10/2024 là 2.644.000 đồng, tiền khám điều trị bệnh ngày 26/9/2024 là 6.014.581 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ ngày 10/8/2024 là 2.200.000 đồng, tiền khám tại Bệnh viện Đ ngày 17/8/2024 là 816.000 đồng. Tổng số tiền là 304.285.000 đồng.

Hội đồng xét xử thấy rằng số tiền bồi thường phải do nguyên đơn yêu cầu là các chi phí thực tế, hợp lý, tiền bồi thường phải dựa trên thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi xâm phạm sức khỏe của bị đơn đã gây ra theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về chi phí thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự 2015.

Theo hồ sơ vụ án thì diễn biến thời gian khám bệnh, chữa bệnh của bà T cụ thể: Ngày 13/8/2024 thì xảy ra sự việc xe tô tô anh A gây tai nạn giao thông đối với bà T đến ngày 16/8/2024 thì bà T đi chụp cộng hưởng từ ở phòng khám Đ1 - Thái Nguyên (Kết luận: Hình ảnh tràn dịch, thoái hóa khớp gối phải; Hình ảnh đứt dây chằng chéo trước, đụng giập dây chằng bên chày và phần mềm lân cận gối phải; Hình ảnh thoát vị, rách sụn chêm trong gối phải, rách sụn chêm ngoài gối phải); Ngày 17/8/2024 thì đi khám tại bệnh viện Đ (Chẩn đoán: Thoái hóa khớp gối; Kết quả cận lâm sàng: Hình ảnh thoái hóa và ít dịch khớp gối phải; Hình ảnh thoái hóa và ít dịch khớp gối trái; Thoái hóa khớp gối trái; Thoái hóa khớp gối phải); Ngày 04/9/2024 bà T đi tái khám (Chẩn đoán: thoái hóa khớp gối); ngày 26/9/2024 bà Thu nhập V1 tại bệnh viện P1 đến ngày 23/10/2024 thì ra viện (Chẩn đoán: Cứng khớp, đau lưng kèm đau thần kinh tọa); Ngày 04/12/2024 bà T đi khám lại ở bệnh viện Đ chẩn đoán thoái hóa khớp gối không đặc hiệu, kết quả khám: Chẩn đoán thoái hóa khớp gối không đặc hiệu; Ngày 03/01/2025 bà Thu nhập V1 tại bệnh viện Đ đến ngày 26/01/2025 thì ra viện (Chẩn đoán bệnh chính: thoái hóa khớp gối không đặc hiệu; chẩn đoán ra viện chi tiết: hạn chế vận động sau mổ thay khớp gối phải toàn bộ/thoái hóa khớp gối hai bên: bên phải nặng hơn bên trái - ngoại tâm thu thất - dị ứng không rõ nguyên nhân; bệnh kèm theo: Bệnh lý tăng huyết áp - Huyết khối mạch vành không gây nhồi máu cơ tim - Bất thường của nhịp tim - Dị ứng chưa xác định); Ngày 04/01/2025 bà T mổ thay khớp gối; Ngày 04/3/2025 bà Thu nhập V1 tại bệnh viện Đ đến ngày 28/3/2025 thì ra viện (chẩn đoán bệnh chính: sự có mặt dụng cụ cấy ghép xương và gân; chẩn đoán ra viện chi tiết: cứng khớp gối P/sau mổ thay khớp gối cách đây 3 tháng - Rối loạn mỡ máu - Trào ngược dạ dày thực quản - Rối loạn nhịp tim).

Về thời gian khám, điều trị: Quá trình khám bệnh, chữa bệnh của bà T diễn ra nhiều lần, nhiều đợt nhưng các tài liệu trong hồ sơ vụ án do bà T cung cấp đều không thể hiện việc bà Thu nhập V1 để điều trị vết thương do tai nạn giao thông do anh A gây ra với nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông là đứt dây chằng chéo trước, tổn thương sụn chêm, tỷ lệ thương tật 34% như Kết luận giám định pháp y số 735/KLTTCT-TTPY ngày 08/10/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T, mà toàn bộ quá trình bà T là khám và điều trị bệnh do những nguyên nhân không có mối liên hệ đến việc gây tai nạn giao thông do anh A gây ra như: điều trị mổ thay khớp gối do thoái hóa khớp gối, rối loạn mỡ máu, trào ngược dạ dày, rối loạn nhịp tim...Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thương tích của bà T do nguyên nhân tai nạn giao thông do anh A gây ra cần thời gian hợp lý để điều trị và phục hồi sức khỏe và chấp nhận thời gian khám, điều trị là 02 tháng là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

- Đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh, thuê phương tiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận những chi phí khám bệnh, chữa bệnh thực tế của bà T gồm: Chi phí chụp cộng hưởng từ tại Phòng khám Đ1 - Thái Nguyên ngày 16/8/2024 là: 2.200.000 đồng; Chi phí khám bệnh tại Bệnh viện Đ ngày 17/8/2024 là: 816.000 đồng; Chi phí chụp cộng hưởng từ do Cơ quan giám định Pháp y yêu cầu để giám định sức khoẻ ngày 01/10/2024 là 2.644.000 đồng; Chi phí khám, xét nghiệm, chụp chiếu, tại bệnh viện Đ ngày 04/12/2024 là: 404.000 đồng và 2.554.000 đồng, tiền thuốc là: 1.424.850 đồng; Chi phí tiền thuốc tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên ngày 23/10/2024 là 1.202.916 đồng; Chi phí thuê phương tiện đến cơ sở khám chữa bệnh tại Hà Nội 06 lượt là: 6.000.000 đồng. Tổng là: 17.245.766 đồng. Đây là những chi phí thực tế, hợp lý có liên quan đến việc khám và chữa bệnh xuất phát từ nguyên nhân tai nạn giao thông cho anh A gây ra nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với các yêu cầu này là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.

- Đối với tiền mất thu nhập của người chăm sóc: Tại phiên tòa phúc thẩm bà T yêu cầu bồi thường việc mất thu nhập của con bà T nghỉ việc ở Bình Dương để chăm sóc cho bà T là 10.000.000 đồng x 12 tháng = 120.000.000 đồng. Đối với yêu cầu này bà T không cung cấp được tài liệu gì để chứng minh về thu nhập của con bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận tiền mất thu nhập của người chăm sóc cho bà T trong thời gian 02 tháng bà T khám bệnh, chữa bệnh là có căn cứ, cụ thể: Công người chăm sóc tính theo lương tối thiểu vùng II tại Thái Nguyên là 4.410.000 đồng/ tháng x 02 tháng = 8.820.000 đồng.

- Đối với tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị: Tại phiên tòa phúc thẩm bà T yêu cầu bồi thường việc mất thu nhập của bà T là 3.000.000 đồng x 12 tháng = 36.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận tiền mất thu nhập của bà thu là 02 tháng tương ứng thời gian khám bệnh, chữa bệnh và áp dụng mức bồi thường là mức lương tối thiểu vùng II tại Thái Nguyên là có căn cứ, cụ thể: 4.410.000 đồng/ tháng x 02 tháng = 8.820.000 đồng.

- Đối với số tiền tổn thất về tinh thần: Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu tổn thất về tinh thần là 17 tháng lương cơ sở là có căn cứ, cụ thể: 17 tháng x 2.340.000 đồng = 39.780.000 đồng.

- Đối với yêu cầu bồi thường 104.509.150 đồng tiền chi phí thay khớp gối mà tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu. Hội đồng xét xử thấy rằng không có căn cứ để xem xét, bởi lẽ: Kết luận giám định tổn thương của bà T do tai nạn giao thông gây ra là bị đứt dây chằng chéo trước, tổn thương sụn chêm. Trong khi đó nguyên nhân dẫn đến việc thay khớp gối là bà T bị thoái hóa khớp gối không phải từ nguyên nhân bị tai nạn giao thông do anh A gây ra.

Tổng các khoản tiền bà T được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận bồi thường là: 74.665.766 đồng (Bảy mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng) là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn trình bày hoàn toàn đồng ý với bản án sơ thẩm. Đối với các khoản chi phí khác không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đó là những chi phí không hợp lý, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào các quy định của pháp luật trên cơ sở các chi phí thực tế và hợp lý đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện cho bà T là có căn cứ.

Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan toàn bộ các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Bà Hà Thị T thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị T.

3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ