vanban.org

Bản án 201/2023/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cướp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cướp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2023/HSST
Ngày 01/6/2023.

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm N dân:

Bà Phan Thị Phụng

Ông Huỳnh Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Quân – Thư ký Tòa án N dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án N dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, Giới tính: Nam, sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, CCCD số: 046203000329; nơi thường trú: 15/25 Võ Duy Ninh, phường 22, quận B, Thành phố H Nơi cư trú: nhà không số, tổ dân phố 47, hẻm 180 đường Nguyễn Hữu C, phường 22, quận B, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn P và bà Bùi Thị N; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 16/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh- có mặt.

Bị hại:

1, Ông Nguyễn Sơn T, sinh năm 1991, nơi cư trú: 301 Bis Trần Hưng Đ, phường , Quận 1, Thành phố H – có mặt.

2, Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1987, nơi cư trú: 159/8E Hoàng Văn Th, phường 8, quận Phú N, Thành phố H- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 16 giờ ngày 12/11/2022, Trương Thanh S (Sinh năm 2005; Thường trú: 75/53A Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) rủ Nguyễn Văn N cùng ngồi bán nước giải khát thuê tại khu vực nóc hầm Thủ Thiêm 2, phường Thủ Thiêm, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh rủ nhau đi cướp tài sản của các cặp nam nữ ngồi tâm sự tại nóc hầm Thủ Thiêm, N đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, N mượn xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 83P1 - 013.64 của Bùi Thiện Đức là anh họ của N đến đón Sang tại địa chỉ 75/53A Võ Duy Ninh, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, N chở Sang đi lòng vòng khu vực nóc hầm Thủ Thiêm 2 để tìm kiếm đối tượng cướp tài sản. Đến khoảng 02 giờ 30 ngày 13/11/2022, Sang và N đi đến Cầu số 19 (trên nóc hầm Thủ Thiêm) thuộc khu phố 9, phường Thủ Thiêm, thành phố Thủ Đức thì phát hiện anh Nguyễn Sơn T và bạn gái là chị Nguyễn Thị Thúy K đang ngồi tâm sự. Lúc này, N chở Sang quay lại chỗ bán nước lấy 02 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại, kích thước 45cm x 06cm được cất giấu trong bụi cây rồi để dao dọc theo yên xe, N điều khiển xe mô tô chở Sang chạy đến nơi anh T, chị K đang ngồi. Khi đến nơi N và Sang xuống xe cầm mỗi người 01 con dao thì anh T, chị K bỏ chạy; N và Sang cầm dao chạy bộ đuổi theo đến cuối Cầu số 19 thì đuổi kịp anh T, chị K. Tại đây, Sang dùng tay phải cầm dao đưa lên dọa chém và nói: “Có tài sản gì móc ra hết”, chị K hoảng sợ la lớn thì N nói: “Chị đừng có la không ai làm gì chị đâu”. Lúc này, Sang yêu cầu anh T móc hết tiền trong ví đưa cho Sang thì anh T lấy trong túi chéo bằng da, màu vàng nâu đang đeo trước ngực ra 01 chiếc ví da màu đen, Sang giật lấy và lục soát chiếc ví lấy 2.100.000 đồng (04 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng) rồi vứt chiếc ví xuống đất. Sang tiếp tục yêu cầu anh T đưa chìa khóa xe mô tô cho Sang, Sang ném chìa khóa xe mô tô của anh T ra phía xa rồi cả hai điều khiển xe mô tô tẩu thoát quay lại về hướng cầu Thủ Thiêm, chạy về chỗ bán nước giải khát để cất giấu 02 con dao vào vị trí ban đầu. Trên đường về, Sang chia cho N số tiền 1.000.000 đồng, N đã tiêu xài hết số tiền trên. Sau khi xảy ra sự việc, anh T đã đến Công an phường Thủ Thiêm, thành phố Thủ Đức trình báo. Đến ngày 15/11/2022, Nguyễn Văn N đến Công an phường Thủ Thiêm đầu thú.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSTPTĐ ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức,Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, sau khi trình bày bản luận tội vị đại diện viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản”, Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường 2.100.000 đồng cho phía bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra Viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Xét thấy, lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/11/2022 tại Cầu số 19 (trên nóc hầm Thủ Thiêm) thuộc khu phố 9, phường Thủ Thiêm, thành phố Thủ Đức, bị cáo Nguyễn Văn N và đối tượng Trương Thanh Sang (đã bỏ trốn) đã có hành vi dùng dao đe dọa bị hại ông Nguyễn Sơn T và bà Nguyễn Thị Thúy K để chiếm đoạt số tiền 2.100.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội cướp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tình tiết định khung: hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của con người. Do đó cần phải xứ lý nghiêm minh bằng một hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn N giữ vai trò đồng phạm giúp sức cho đối tượng Trương Thanh Sang (đã bỏ trốn), đối tượng Trương Thanh Sang đã dùng dao bằng cán gỗ, lưỡi bằng kim loại để thực hiện hành vi cướp tài sản của bị hại, do đó bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu trách nhiệm cùng với đồng phạm là đối tượng Trương Thanh Sang về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt dùng phương tiện nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi sự việc phạm tội bị cáo Nguyễn Văn N đã ra đầu thú, bị cáo thực hiện hanh vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Sơn T bị chiếm đoạt số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng. Bị hại ông Nguyễn Sơn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường. Bị cáo Nguyễn Văn N cũng đồng ý bồi thường nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Sơn T số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng.

[7]. Về vật chứng:

- 01 xe môtô hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 83P1-013.64 thu giữ của Bùi Thiện Đức. Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Trần Văn Điện (sinh năm 1973; Thường trú: ấp Hòa Đặng, xã Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, anh Điện cho biết đã bán xe mô tô trên từ lâu nhưng không làm thủ tục sang tên. Do chưa xác định được chủ sở hữu nên cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn sáu tháng, sau 06 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu đới với xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 83P1-013.64 thì cần tịch thu sung công;

- 01 nón bảo hiểm màu trắng có liên quan đến việc phạm tội thì tịch thu sung công;

- 01 áo sơ mi tay dài màu đen, viền đỏ - đen - trắng và 02 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại, kích thước 45cm x 06cm có liên quan đến việc phạm tội thì cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Xét cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thẩm theo qui định.

[9]. Đối với đối tượng Trương Thanh Sang, qua xác minh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức chưa xác định được đối tượng Sang hiện nay đang ở đâu, chưa tiến hành lấy lời khai, chưa làm việc được với đối tượng này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Quyết định tách vụ án hình sự số 10/QĐ-CQCSĐT-ĐCSHS ngày 13/3/2023 để tiếp tục điều tra đối với Trương Thanh Sang, khi có căn cứ sẽ làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cướp tài sản”;

Áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2021.

2. Về phần dân sự: Áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Sơn T số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện việc trả số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi tay dài màu đen, viền đỏ - đen - trắng và 02 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại, kích thước 45cm x 06cm.

Tịch thu sung công quỹ 01 nón bảo hiểm màu trắng

Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn sáu tháng, sau 06 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu đối với xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 83P1-013.64 thì cần tịch thu sung công.

(Phiếu nhập kho số NK23/167C ngày 12/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ