- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị D ly hôn Anh Vũ Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, chị Vũ Thị D được ly hôn với anh Vũ Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH TỈNH ĐN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:201/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BH- TÆNH ĐN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Q
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi L.
Ông Trần Văn C.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh S – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 449/2023/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 221/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1986.
Địa chỉ thường trú: 11B/22, khu phố 4, phường HN, thành phố BH, tỉnh ĐN.
Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, tổ 34, khu phố 4C, phường TD, thành phố BH, tỉnh ĐN.
- Bị đơn: Anh Vũ Thanh T, sinh năm 1982.
Địa chỉ thường trú: 11B/22, khu phố 4, phường HN, thành phố BH, tỉnh ĐN.
Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, tổ 34, khu phố 4C, phường TD, thành phố BH, tỉnh ĐN.
(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Vũ Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2005 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HN, thành phố BH, tỉnh ĐN, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm, suy nghĩ trái ngược nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Chị và anh Vũ Thanh T vẫn sống chung nhà với nhau nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị D xác định có 03 con chung gồm cháu Vũ Mộng Thuỷ T, sinh ngày 12/9/2007, cháu Vũ Ngọc Cẩm T1, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Vũ Ngọc Tú Nh, sinh ngày 08/4/2014. Hiện nay các con đang ở với chị và thu nhập của chị hàng tháng là 20.000.000 đồng. Ly hôn, Chị D xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu T1 và cháu Nh cho đến khi trưởng thành, tạm thời chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.
- Bị đơn anh Vũ Thanh T được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Toà án.
YÙ kieán cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân thành phố BH:
+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị D, cho chị Vũ Thị D được ly hôn với anh Vũ Thanh T; Về con chung: Giao cháu Vũ Mộng Thuỷ T, sinh ngày 12/9/2007, cháu Vũ Ngọc Cẩm T1, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Vũ Ngọc Tú Nh, sinh ngày 08/4/2014 cho Chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết; Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Vũ Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Thanh T. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Vũ Thị D là nguyên đơn, anh Vũ Thanh T là bị đơn .
Về thẩm quyền giải quyết: Theo biên bản xác minh ngày 11/4/2023, ngày 18/4/2023 Công an phường HN và Công an phường TD cung cấp: Anh Vũ Thanh T hiện sinh sống tại địa chỉ: tổ 34, khu phố 4C, phường TD, thành phố BH, tỉnh ĐN. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN.
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh Vũ Thanh T nhưng anh T không đến Toà làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà xét xử; Chị Vũ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với Chị D, anh T.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, HĐXX xét thấy: Chị Vũ Thị D và anh Vũ Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường HN, thành phố BH, tỉnh ĐN ngày 19/9/2005, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo trình bày của Chị D quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm, suy nghĩ trái ngược nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Chị và anh Vũ Thanh T vẫn sống chung nhà với nhau nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được Chị D xin được ly hôn với anh T.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng anh T vẫn không có ý kiến chứng tỏ bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với Chị D. Xét thấy, tình trạng ly thân của vợ chồng Chị D, anh T đã kéo dài, tình trạng hôn nhân trầm trọng. Anh T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nay Chị D xin ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56, Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị D xác định quá tình chung sống chị và anh T có với 03 con chung cháu Vũ Mộng Thuỷ T, sinh ngày 12/9/2007, cháu Vũ Ngọc Cẩm T1, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Vũ Ngọc Tú Nh, sinh ngày 08/4/2014. Khi ly hôn, Chị D xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, cháu T1, cháu Nh, tạm thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Cháu T, cháu T1, cháu Nh đang sống ổn định với Chị D và các cháu có nguyên vọng ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với anh T. Để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý cũng như việc ăn ở, học hành của các cháu và nguyện vọng của các cháu là hoàn toàn chính đáng, vì vậy cần thiết giao cháu T, cháu T1, cháu Nh cho Chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị D không yêu cầu.
Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Xét yêu cầu của Chị D phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Chị Vũ Thị D phải nộp toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Vũ Thanh T không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, chị Vũ Thị D được ly hôn với anh Vũ Thanh T.
2.Về con chung: Giao cháu Vũ Mộng Thuỷ T, sinh ngày 12/9/2007, cháu Vũ Ngọc Cẩm T1, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Vũ Ngọc Tú Nh, sinh ngày 08/4/2014 cho chị Vũ Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị D không yêu cầu.
Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
5. Án phí HNGĐ-ST: Chị Vũ Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Chị D đã nộp tại biên lai số 0006508 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BH. Chị Vũ Thị D đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Vũ Thanh T không phải nộp án phí.
6. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị D, anh Vũ Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn C Thiều Thị Phi L
Nguyễn Thị Q
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thìn
Huỳnh Thị Kim Kiên
Nguyễn Thị Quỳnh
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh; - VKSND TP. BH; - THA dân sự ; - Đương sự; - UBND phường An Bình,TP.BH; - Lưu. THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA TÆNH ÑOÀNG NAI BIEÂN BAÛN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04/9/2020 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân TP. BH, tỉnh ĐN Vôùi hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù: Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: OÂng Trần Văn Chánh- Cán bộ hưu trí. thành phố BH. ngày 20 tháng 7 năm 20120 về việc “Tranh chấp ly hôn”, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hằng, sinh năm 1976. tỉnh ĐN. - Bị đơn: Ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973. BH, tỉnh ĐN. phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Về tố tụng: hôn với ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973; Địa chỉ: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố BH, tỉnh ĐN . Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN. Ngày 31/7/2020 ông Trần Văn Khoa có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chưng cứ và hoà giải và vắng mặt tại các phiên toà khi xét xử nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Khoa. Ngày 13/8/2020, bà Trần Thị Hằng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà Hằng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quan hệ hôn nhân: 1995 tại Ủy ban nhân dân Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/02/1995. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Khoa nghiện rượu, cờ bạc, nhiều lần ông Khoa đánh đập bà. Mỗi lần đánh đập bà, bà có báo chính quyền địa phương, có thời gian ông Khoa bị đưa đi cải tạo 02 năm nhưng khi trở về vẫn không thay đổi, tính nào tật đó. Ngày 17/4/2020 Công an phường Long Bình, thành phố BH, tỉnh ĐN đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Khoa về “hành vi lặng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên trong gia đình”. Tuy bị ông Khoa nhiều lần đánh đập nhưng nghĩ về con cái nên bà đã cố chịu đựng nhưng ông Khoa càng ngày càng bạo lực hơn, đe doạ tính mạng của bà và các con. Từ tháng 3/2020 đến nay bà và ông Khoa sống ly thân với nhau, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Khoa. Xét yêu cầu ly hôn của bà Hằng là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, việc bà Hằng xin ly hôn với ông Khoa là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về con chung: sinh ngày 19/11/1995, cháu Trần Thế Anh, sinh ngày 07/11/1999 và cháu Trần Mạnh Hùng, sinh ngày 18/01/2007. Ly hôn bà Hằng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hùng, ông Khoa cũng đồng ý giao cháu Hùng cho bà Hằng nuôi. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Hùng đang ở với bà Hằng, do bà Hằng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về việc học tập và sinh hoạt cho cháu Hùng, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Hằng, giao cháu Hùng cho bà Hằng chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông Khoa không phải cấp dưỡng nuôi con cháu Hùng. Riêng cháu Nhung, cháu Anh đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết. quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. chung: Bà Hằng và ông Khoa tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; về nợ chung: Bà Hằng và ông Khoa khai không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về án phí: Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quyền kháng cáo: thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2020. và ký tên dưới đây. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chánh Huỳnh Thị Kim Kiên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | Nguyễn Thị Quỳnh TOØA AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM Ñoäc Laäp – Töï do – Haïnh Phuùc Bà Huỳnh Thị Kim Kiên- Hội liên hiệp phụ nữ Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 1710/2020/TLST – HNGĐ Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố BH, Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố (Bà Hằng và ông Khoa có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: bà Trần Thị Hằng nộp đơn yêu cầu giải quyết ly - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa tự nguyện kết hôn vào năm - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: có 03 con chung là cháu Trần Thị Hồng Nhung, Ông Khoa được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. Về tài sản chung và nợ chung: Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Chánh:Về tài sản - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Trần Thị Hằng phải nộp 300.000đồng án phí - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa có quyeàn khaùng caùo trong - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm nhân. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe Nguyễn Thị Quỳnh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |