- Tranh chấp gì? án hình sự — "N.H.M. và N.T.S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.H.M, N.T.S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201 /2022/HSST Ngày 27/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Anh Vân, Vũ Thị Kim Thanh;
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Đỗ Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 208/2022/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2022/HSST-QĐ ngày 16/9/2022 đối với các bị cáo: 1.Họ và tên: N.H.M; Sinh năm : 1982 ; HKTT và ở: TDP Văn Trì 1, X, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: N.H.Đ; SN 1956; Họ và tên mẹ: B.T.T; sinh năm: 1956; Họ và tên vợ: P.T.G- SN 1983 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2007.Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 108/HSST ngày 28/5/2021, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trộm cắp 1.200.000 đồng). Thi hành xong hình phạt tù ngày 05/03/2022. Chưa xoá án tích. Lần phạm tội lần này là tái phạm. Nhân thân: Ngày 19/3/2010, cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện số 5-Hà Nội. Ngày 19/3/2012 đã chấp hành xong. Bản án số 457/HSST ngày 25/12/2007, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bản án số 38/HSST 04/02/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 32/HSST ngày 29/01/2019, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 08/07/2022, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/07/2022, Danh chỉ bản số 315 lập ngày 14/7/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa. 2.Họ và tên: N.T.S; Giới tính: Nam; sinh năm 1986 HKTT và ở: TDP Văn Trì 1, X, Bắc Từ Liêm, Hà Nội ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: N.V.L; sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: P.T.H; sinh năm : 1965; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/11/2019 Công an quận Bắc Từ Liêm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản Điều 15 Nghị định số 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Mức phạt 1.500.000 đồng. S đã nộp phạt năm 2019, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bản án số 98/HSST ngày 23/4/2009, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, TP Hà Nội xử 01 năm tù về tội Cướp giật tài sản. (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 08/07/2022, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/07/2022, Danh chỉ bản số 313 lập ngày 14/7/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Chị V.T.N.A sinh năm 2003, HKTT: Khu Liên Hồng 1, M, Lạc Thủy, thành phố Hòa Bình , chị T.T.T.T sinh năm 2002, HKTT: Tuấn Đạo, N, thành phố Bắc Giang. Chị N.T.H.T sinh năm : 1999. HKTT: Phố E, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : L.T.T.Q sinh năm : 1984 – HKTT:
Tổ 14, phường F, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Chị B.T.T sinh năm : 1990 – HKTT: Tổ 15, phường Y, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. (Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo N.H.M và N.T.S bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau: Do thiếu tiền tiêu xài, N.H.M đi lang thang quanh khu vực phường Y xem ai sơ hở với mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/6/2022, N.H.M đi bộ lang thang trên đường Đình Quán thuộc phường Y, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, thì nhặt 01 thanh sắt dài khoảng 20cm rồi cho vào túi quần phía sau với mục đích làm công cụ để phá khoá. Khi M đi đến khu nhà trọ ở số 1B ngõ 30 đường Đình Quán thì phát hiện cổng mở, tầng 1 có nhiều xe máy không có người trông giữ nên M đã gọi điện thoại cho N.T.S đến để cùng nhau trộm cắp tài sản, N ý và điều khiển xe máy Honda Airblade BKS: 29L1-000.85 đến đầu ngõ 30 đường Đình Quán gặp M. Tại đây, M bảo S đứng ở ngoài cảnh giới còn M đi vào nhà số 1B để trộm cắp tài sản, M đi bộ lên tầng 3 khu nhà trọ thì phát hiện có một phòng khóa ngoài, M dùng thanh sắt đã chuẩn bị sẵn cậy phá khóa cửa phòng rồi vào trong trộm cắp 01 chiếc laptop Lenovo màu đen của chị N.T.H.T. Sau khi trộm cắp xong, M đi xuống tầng 2 thì phát hiện phòng của chị T.T.T.T cũng khóa cửa ngoài nên M dùng thanh sắt cậy phá khóa cửa rồi vào trong phòng trộm cắp 1 chiếc laptop Dell màu trắng, một điện thoại Realme C3 màu đỏ và 01 ba lô màu đen đang để trên giường, M cho tất cả tài sản trộm cắp được cho vào chiếc ba lô của chị T và tiếp tục đi xuống đến tầng một. Tại đây M trộm cắp chiếc xe máy điện màu đen biển kiểm soát 28MĐ8-011.36 của chị V.N.N.A. Sau đó M đeo ba lô trên vài rồi dắt xe máy điện đi ra ngoài đầu ngõ 30 đường Đình Quán để gặp S. M ngồi lên xe máy điện bảo S điều khiển xe máy phía sau đẩy xe cho M nhưng do sợ bị phát hiện S chỉ đi theo phía sau M và đi về nhà M. Sau khi trộm cắp được tài sản, M đưa cho S chiếc ba lô màu đen bên trong có chứa 2 laptop và 01 điện thoại vừa trộm cắp và bảo S đi bán còn M tự tháo biển kiểm soát xe máy điện rồi đi đến cửa hàng Chính Tâm tại số 62 đường Cầu Diễn, phường Y, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội bán cho chị B.T.T (SN: 1990 – HKTT: Tổ 15, phường Y, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) với giá 2.000.000 đồng. Trong lúc đó S đã mang chiếc điện thoại Realme C3 đến bán tại cửa hàng sửa chữa điện thoại Định Quyên tại số 1 ngã tư Nhỗn, phường Z, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội của chị L.T.T.Q (SN: 1984 – HKTT: Tổ 14, phường F, quận Cầu Giấy, Hà Nội) với giá 700.000 đồng, còn hai chiếc latop S giấu ở bụi cây trên đường Văn Tiến Dũng nhưng bị mất nên S nói lại với M về việc bị mất. Do M không tin nên S đã đưa cho M số tiền 2.000.000 đồng. Toàn bộ tiền bán tài sản trộm cắp hai đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 04/7/2022, công an phường Y, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội nhận được đơn trình báo của chị V.N.N.A (sinh năm 2003, HKTT: Khu Liên Hồng 1, M, Lạc Thủy, Hòa Bình), chị T.T.T.T (sinh năm 2002, HKTT: Tuấn Đạo, N, Bắc Giang) về việc khoảng 13 giờ 00 ngày 26/6/2022 tại số 1B ngõ 30 Đình Quán, phường Y, quận Bắc Từ Liêm bị trộm cắp tài sản là laptop, điện thoại, xe máy điện.
Qua rà soát camera, cơ quan Công an đã xác định đối tượng trộm cắp tài sản là N.H.M và N.T.S. Vì vậy ngày 08/7/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với N.H.M, N.T.S. (BL 32- 33)
Vật chứng thu giữ của N.H.M: 01 biển kiểm soát 28 MĐ8-011.36 đã qua sử dụng. Vật chứng thu giữ của N.T.S: 01 xe máy Honda Airblade BKS 29L1-000.85. (BL 198)
Khám xét khẩn cấp nơi ở của N.H.M, N.T.S: cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Ngày 14/7/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Bắc Từ Liêm ra Yêu cầu định giá tài sản số 216 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm định giá tài sản do M và S trộm cắp. (BL 59)
Kết luận định giá tài sản số 336 ngày 16/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm xác định: 01 xe máy điện nhãn hiệu SYM màu đen, BKS 28MĐ-01136, đã qua sử dụng, số máy LS60V800W180364952, số khung RLGEG5PWHJH100643 trị giá 2.600.000 đồng. 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15 500 Series màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 3.500.000 đồng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, C3 màu đỏ, đã qua sử dụng trị giá 1.200.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 339 ngày 16/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm xác định: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Ideapad G450 Series màu đen, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, N.H.M, N.T.S khai nhận nội dung như trên và khai mục đích trộm cắp là để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi bán xe máy điện, điện thoại M, S đều không nói cho người mua biết về nguồn gốc số tài sản trên là do trộm cắp mà có.
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Bắc Từ Liêm đã tiến hành dẫn giải M nơi tiêu thụ chiếc xe máy điện tải cửa hàng Chính Tâm. Tại cơ quan điều tra chị B.T.T (quản lý cửa hàng) khai có mua chiếc xe máy điện (không biển kiểm soát) của M nhưng không biết là tài sản trộm cắp và đã bán lại chiếc xe trên cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ.
Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải S chỉ nơi bán chiếc điện thoại là cửa hàng sửa chữa điện thoại Định Quyên. Tại cơ quan điều tra chị L.T.T.Q (quản lý cửa hàng) khai có mua điện thoại Realme C3 của S, không biết điện thoại trên là tài sản do S trộm cắp được và đã bán lại cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. Tiến hành dẫn giải S đến nơi cất giấu hai chiếc lap top nhưng không thu giữ được.
Đối với chiếc ba lô đựng laptop màu đen bị trộm cắp của chị T.T.T.T, do chiếc ba lô đã cũ, không có giá trị sử dụng nên chị T không đề nghị định giá tài sản.
Đối với chiếc xe máy điện BKS 28M8-011.36, qua xác minh đăng ký tên V.Q.N (SN: 1994 – HKTT: Liên Hồng 1, M, Lạc Thuỷ, Hoà Bình). Chị N khai: Tháng 2/2020, chị Như mua chiếc xe máy điện trên, đến tháng 5/2021, chị N cho em gái ruột là V.N.N.A chiếc xe trên. Qua tra cứu không có dữ liệu xe máy vật chứng.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade BKS 29L1-000.85 mà S đã sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình xác minh xác định người đứng tên đăng ký là anh N.A.T (SN: 1984 – TDP Văn Trì 1, phường X, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội), anh trai của S. Anh T khai: Năm 2011, anh T mua chiếc xe trên để sử dụng và thường để xe máy và chìa khoá ở nhà để S và người nhà sử dụng. Việc S lấy đi để trộm cắp tài sản, anh T không biết. Quá trình điều tra xác định anh N.A.T là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy trên vì vậy ngày 25/8/2022, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 99 trao trả chiếc xe máy trên cho anh T. Anh T đã nhận lại, không có yêu cầu gì.
Về trách nhiệm dân sự: Chị V.N.N.A yêu cầu bồi thường số tiền 2.600.000 đồng.Chị N.T.H.T yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng. Chị T.T.T.T yêu cầu bồi thường số tiền 4.700.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 206./CT-VKSBTL ngày 15/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị cáo N.H.M, N.T.S về tội: “Trộm cắp tài sản“ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình Sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa sau khi phân tích đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo M từ 18 đến 22 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo S từ 14 đến 18 tháng tù. Buộc các bị cáo bồi thường cho các bị hại, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng hình sự : Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Bắc Từ Liêm, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền , trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/6/2022, tại số 1B ngõ 30 đường Đình Quán, phường Y, Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, N.H.M và N.T.S đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc laptop Lenovo Idepad G450 Series màu đen của chị N.T.H.T trị giá 4.000.000 đồng; 01 chiếc laptop Dell màu trắng Isprison 15 500 Series trị giá 3.500.000 đồng, 01 điện thoại Realme C3 màu đỏ trị giá 1.200.000 đồng của chị T.T.T.T; 01 chiếc xe máy điện BKS 28M8-011.36 của chị V.N.N.A trị giá 2.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 11.300.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
- Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, M là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, S là người cảnh giới và bán tài sản trộm cắp giúp sức cho M thực hiện tội phạm . Nên M sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn S. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội:“Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N.H.M phạm tội lần này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhân xấu, nhiều lần bị đưa ra xét xử, thể hiệ sự coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung, giúp bị cáo trở thành công dân tốt. Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải lên đới bồi thường cho các bị hại. Cụ thể như sau: Chị V.N.N.Asố tiền 2.600.000 đồng. Chị N.T.H.T số tiền 4.000.000 đồng. Chị T.T.T.T số tiền 4.700.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo N.H.M 01 biển kiểm soát 28MDD8-01136 đã qua sử dụng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo N.H.M, N.T.S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 , Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo N.H.M 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2022. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 , Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo N.T.S 14 ( Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 14/7/2022 . Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo N.H.M 01 biển kiểm soát 28MDD8-01136 đã qua sử dụng.Theo biên bản bàn giao nhận vật chứng số 236/22 ngày 20 tháng 9 năm 2022 giữa công an quận Bắc Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Bắc Từ Liêm).
3. Về dân sự : Áp dụng khoản 1 Điều 584, Điều 587 Bộ luật dân sự . Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Chị V.N.N.A số tiền 2.600.000 đồng. Chị N.T.H.T số tiền 4.000.000 đồng. Chị T.T.T.T số tiền 4.700.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Mỗi bị cáo phải chịu 282.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Bắc Từ Liêm; | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thùy Chi |