- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lộc T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2022/HS-ST Ngày: 24/10/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ T Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Minh Khiết
- Ông Nguyễn Thành Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Cương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Nhã - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 260/2022/TLST-HS ngày 05/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2022/QĐXXST-HS ngày 12/10/2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Lộc T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1974, tại: tỉnh QN; Nơi đăng ký thường trú: thôn NM, xã PC, huyện ĐP, tỉnh QN; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Lộc H, đã chết; Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị T, đã chết; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị A, đã chết; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 19**, con nhỏ nhất sinh năm 20**,
- Tiền án: 02.
+ Ngày 13/8/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2000 nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và chưa đóng án phí (Bản án số 26/STHS).
+ Ngày 04/01/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 32 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 11/HSST), đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/4/2004 và đóng án phí ngày 01/4/2022, trước ngày phạm tội “Trộm cắp tài sản” (ngày 04/02/2022).
- Tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/02/2022 (Bị cáo có mặt);
2. Triệu Tuyết P; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 19**, tại: ĐN; Hộ khẩu thường trú: Không có; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Triệu X, sinh năm: 19**; Họ và tên mẹ: Thạch Thị P, sinh năm: 19**; Họ và tên chồng: Lê Văn Đ, sinh năm: 19**; Bị cáo chưa có con,
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/02/2022 (Bị cáo có mặt);
* Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Anh Tiêu Quang B, sinh năm: 19**. Địa chỉ: 143/43/3 đường Liên khu X, phường BHH B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 03/02/2022, đối tượng T (không rõ lai lịch) rủ Triệu Tuyết P và Nguyễn Lộc T đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, P và T đồng ý. T điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 36B3-190.71 chở P, T điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 72K1 - 4907 kéo theo chiếc thùng lôi kéo bằng sắt phía sau và mang theo 01 (một) ba lô màu đen bên trong chứa 04 (bốn) kiềm cộng lực, 01 (một) đèn pin. Sau đó, cả 03 đi qua nhiều tuyến đường tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ ngày 04/02/2022, cả ba phát hiện kho chứa hàng tại địa chỉ số 685 Quốc lộ 1, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân của anh Tiêu Quang B không có người trông coi nên cả nhóm cùng nhau thống nhất tìm cách đột nhập vào bên trong tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lúc này, T đứng bên ngoài cảnh giới, T cùng P đi vào bên trong kho, T sử dụng kiềm cộng lực cắt cửa sổ bên hông nhà kho và trực tiếp leo vào bên trong lấy trộm dây đồng phế liệu và 08 máy khoan cầm tay chuyền ra cho P bỏ vào bao tải để lên thùng lôi kéo của T nhưng do bao tải lớn nên T đến cùng khiêng bao tải để lên thùng lôi kéo. Lúc này, Tổ tuần tra Công an phường Bình Hưng Hòa phát hiện, bắt giữ T, P cùng vật chứng nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối tượng T chạy thoát.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số 72K1-4907 có kéo chiếc thùng lôi kéo bằng sắt phía sau;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Wave biển số 36B3-190.71;
- 01 (một) cái ba lô màu đen;
- 04 (bốn) cái kiềm cộng lực các loại;
- 01 (một) đèn pin;
- 02 (hai) con dao xếp;
- 01 (một) nón lưỡi trai màu đen;
- 120 kg đồng đỏ phế liệu và 08 máy khoan cầm tay do các bị can lấy trộm của anh Tiêu Quang B. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản các số 72/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Bình Tân xác định:
+ 120 kg đồng đỏ phế liệu, đã qua sử dụng trị giá 24.000.000 đồng.
+ 08 cái máy khoan cầm tay, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 24.800.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Tiêu Quang B đã nhận được tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Các bị cáo không có bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho nhau trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 (Đối với bị cáo T) và khoản 1 Điều 173 (Đối với bị cáo P) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của các bị cáo T và P, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Lộc T và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Triệu Tuyết P, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo T với mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; đề nghị xử phạt bị cáo P với mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Vivo số thuê bao xxxx.xxx.xxx mà bị cáo T khai tại phiên tòa; Bị cáo mua không có hóa đơn cũng như biên bản bắt tại Công an phường lưu trong hồ sơ không thể hiện có thu giữ điện thoại trên và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có yêu cầu gì đối với chiếc điện thoại trên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P đã khai nhận toàn bộ hành vi: Vào khoảng 03 giờ ngày 04/02/2022, tại địa chỉ 685 Quốc lộ 1, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, các bị cáo P, T và đối tượng tên T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 120 kg đồng đỏ phế liệu và 08 máy khoan cầm tay của anh Tiêu Quang B có tổng giá trị là 24.800.000 đồng thì bị phát hiện và bắt giữ, riêng đối tượng T chạy thoát, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản các số 72/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Bình Tân xác định:
+ 120 kg đồng đỏ phế liệu, đã qua sử dụng trị giá 24.000.000 đồng.
+ 08 cái máy khoan cầm tay, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 24.800.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của các bị cáo Triệu Tuyết P và Nguyễn Lộc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tổng tài sản bị cáo trộm cắp trị giá là 24.800.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Nguyễn Lộc T, bị cáo có 02 tiền án: Ngày 13/8/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2000 nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và chưa đóng án phí (Bản án số 26/STHS) và Ngày 04/01/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 32 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 11/HSST), đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/4/2004 và đóng án phí ngày 01/4/2022, trước ngày phạm tội “Trộm cắp tài sản” (ngày 04/02/2022). Bị cáo đã “Tái phạm” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong đó: đối tượng T là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo P là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo T là người cảnh giới. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét vai trò đối với từng bị cáo.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo T và P thuộc trường hợp cố ý phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo P phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét giảm nhẹ thêm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Tiêu Quang B đã nhận được tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường. Hội đồng xét xử xét không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 120 kg đồng đỏ phế liệu và 08 máy khoan cầm tay do các bị can lấy trộm của anh Tiêu Quang B. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh B. Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số 72K1-4907 có kéo chiếc thùng lôi bằng sắt phía sau; 01 (một) xe mô tô hiệu Wave biển số 36B3-190.71. Giao cơ quan thi hành án dân sự quận Bình Tân tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày đăng báo đối với 02 xe mô tô trên. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước. Đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến hai chiếc xe này nếu có sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- Đối với: 01 (một) cái ba lô màu đen; 04 (bốn) cái kiềm cộng lực các loại; 01 (một) đèn pin; 02 (hai) con dao xếp; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen. Hội đồng xét xử xét đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Vivo số thuê bao xxxx.xxx.xxx mà bị cáo T khai tại phiên tòa: Bị cáo mua không có hóa đơn cũng như biên bản bắt tại Công an phường Bình Hưng Hòa, hồ sơ không thể hiện có thu giữ điện thoại trên và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì đối với chiếc điện thoại trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.
- Đối với đối tượng T do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi nào tìm được sẽ xem xét xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lộc T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lộc T: 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2022.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Triệu Tuyết P phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Tuyết P: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Giao cơ quan thi hành án dân sự quận Bình Tân tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 02 tháng đối với 02 xe mô tô: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave biển số 72K1-4907 có kéo chiếc thùng lôi bằng sắt phía sau; 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số 36B3-190.71. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước. Đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến hai chiếc xe này nếu có sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái ba lô màu đen; 04 (bốn) cái kiềm cộng lực các loại; 01 (một) đèn pin; 02 (hai) con dao xếp; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen.
(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK22/107TAM ngày 06/5/2022).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Lộc T và Triệu Tuyết P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND TP.HCM; - VKSND Q.Bình Tân; - CQĐTCA Q.Bình Tân; - CQ THAHSCA Q.Bình Tân; - NTG CA Q.Bình Tân; - Phòng PC64- CATPHCM; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.Bình Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án –Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ T Phương |