vanban.org

Bản án 201/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Aphạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Amức án 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt ngày 15/9/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn A cùng ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2022/HS-ST
Ngày 27-12-2022

NHÂN DAH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N N HUYỆN TP, TỈNH NH THU N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân:+ Bà Nguyễn Thị Bích Lam

+ Bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án huyện TP

- Đ i di n i n ki m sát nh n d n huy n TP tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại tr s Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 176/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 190/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TP, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Lê Văn A, sinh năm 1997; tại tỉnh BT.

Hộ khẩu thường trú và chỗ : khu phố TG1, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Trần Thị Ph; Ah, chị em ruột: có 02 người; vợ, con: chưa có.

Tiền sự: có 01 tiền sự

- Ngày 15.12.2019 bị Công A thị trấn PRC, huyện TP xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (hiện chưa nộp tiền phạt).

Tiền án: có 01 tiền án.

- Ngày 10.11.2020 bị Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 16.3.2021.

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 15.9.2022, hiện đAg tạm giam tại nhà tạm giữ Công A huyện TP, tỉnh BT “có mặt”

2/ Họ và tên: Hồ Hữu T (tên gọi khác: Bích), sinh năm: 1972; Giới tính: Nam; tại tỉnh BT.

Hộ khẩu thường trú và chỗ : khu phố TG1, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hữu Th và bà Lê Thị Nh; Ah, chị em ruột: có 07 người; vợ: Nguyễn Thị H; con: 02 người.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án

- Ngày 15.6.2021 bị Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” chấp hành xong hình phạt ngày 23.01.2022.

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 15.9.2022, hiện đAg tạm giam tại nhà tạm giữ Công A huyện TP, tỉnh BT “có mặt”

* Bị hại:

1/ Trương Thị ThAh H, sinh năm 1971; trú tại: khu phố PH, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh BT “ có mặt”

2/ Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1992; trú tại: khu phố PH, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh BT “ có mặt”

NỘI UNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án nội dung v án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên ngày 16/7/2022 Lê Văn A một mình đi bộ lòng vòng tìm nhà nào để tài sản sơ h sẽ trộm cắp bán lấy tiền mua ma túy sử d ng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày A đi đến nhà của bà Trương Thị ThAh H, thấy nhà không khóa cổng bên hông nhà có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B2-099.65 không có người trông coi. A lén lút đi vào bên hông nhà dắt trộm xe mô tô biển số 86B2-099.65 ra khỏi nhà, trên đường đi A nhặt được thAh kim loại không rõ đặc điểm dùng phá ổ khóa xe rồi nổ máy xe chạy đi. A điện thoại liên lạc với Hồ Hữu T, hỏi bán xe mô tô thì T đồng ý. A điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến quán cà phê gặp T đAg chờ sẵn, T hỏi xe đâu mà có thì A nói xe trộm cắp được khu vực Bàu Ốc, mặc dù T biết rõ xe mô tô nêu trên do A trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua và thỏa thuận giá 2.200.000 đồng. Do không đủ tiền nên A và T điều khiển xe mô tô về nhà của T lấy tiền đưa cho A.

Tiếp đến ngày 23.7.2022 Lê Văn A tiếp t c đi bộ tìm tài sản để trộm cắp, khoảng 17 giờ cùng ngày A đi đến gần nhà của bà Nguyễn Thị Kim Y, nhìn thấy ngoài đường trước cổng một nhà dân (gần nhà bà Yến) có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86R2-0280 không có người trông coi. A lén lút dắt trộm xe mô tô biển số 86R2-0280 bỏ đi, trên đường đi A nhặt được thAh kim loại không rõ đặc điểm dùng phá ổ khóa xe rồi nổ máy xe chạy đi. A tiếp t c điện thoại liên lạc với Hồ Hữu T để bán xe. A điều khiển xe mô tô biển số 86R2-0280 trộm cắp được đến gặp T gạ bán xe mô tô. Sau khi biết xe mô tô do A tiếp t c trộm cắp mà có nên T không đồng ý mua nữa nên A điều khiển xe mô tô đến chòi rẫy thAh long bỏ hoAg gần đó cất giấu rồi bỏ về. Đến ngày 26.7.2022 Công A thị trấn PRC, huyện TP mời Lê Văn Avà Hồ Hữu Tđến làm việc thì A và T đã khai nhận hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 02 chiếc xe mô tô biển số 86B2-099.65 và biển số 86R2-0280.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận:

+ 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen trị giá: 18.300.000 đồng/chiếc x 50% = 9.150.000 đồng.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận:

+ 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen trị giá: 18.300.000 đồng/chiếc x 40% = 7.320.000 đồng.

* Về tAg vật chứng của v án và phần bồi thường dân sự: Sau khi định giá, Cơ quA cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B2-099.65 cho Trương Thị ThAh H, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86R2-0280 cho Nguyễn Thị Kim Y, Hoa và Yến không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tạ ph ên t a ơ thẩm:

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 181/CT-VKSTP-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Hồ Hữu Tphạm tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Amức án từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt ngày 15.9.2022

Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hữu T mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt ngày 15.9.2022

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Sau khi định giá, Cơ quA cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B2-099.65 cho Trương Thị ThAh H, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86R2-0280 cho Nguyễn Thị Kim Y, Hoa và Yến không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và đồng ý quA điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Bị cáo Lê Văn Axin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hồ Hữu Txin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng

Các bị cáo không trAh luận và đồng ý quA điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được trAh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quA điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quA tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quA tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

2 Về ch ng c buộc tội của các ị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra v án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng pháp luật, không oA sai. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quA điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quA và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ v án. Như vậy, có đủ cơ s kết luận:

Vì là nghiện ma túy nên trong tháng 7 năm 2022, bị cáo Lê Văn Ađã thực hiện 02 (Hai) lần trộm cắp tài sản và bị cáo Hồ Hữu Tđã thực hiện hành vi tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có c thể:

Lần 1: khoảng 12 giờ ngày 16/7/2022, bị cáo Lê Văn Ađi đến nhà của bị hại Trương Thị ThAh H, thấy nhà không khóa cổng bên hông nhà có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B2-099.65 không có người trông coi. Bị cáo A lén lút đi vào bên hông nhà dắt trộm xe mô tô biển số 86B2-099.65 ra khỏi nhà, trên đường đi bị cáo A nhặt được thAh kim loại không rõ đặc điểm dùng phá ổ khóa xe rồi nổ máy xe chạy đi. Bị cáo A điện thoại cho bị cáo T thì bị cáo T đồng ý. Bị cáo A điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến quán cà phê gặp bị cáo T, mặc dù bị cáo T biết rõ xe mô tô nêu trên do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua và thỏa thuận giá 2.200.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 23.7.2022, bị cáo A đến khu vực nhà bà Nguyễn Thị Kim Y nhìn thấy ngoài đường trước cổng một nhà dân (gần nhà bà Yến) có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86R2-0280 không có người trông coi. Bị cáo A lén lút dắt trộm xe mô tô biển số 86R2-0280 bỏ đi, trên đường đi bị cáo A nhặt được thAh kim loại không rõ đặc điểm dùng phá ổ khóa xe rồi nổ máy xe chạy đi. Bị cáo A tiếp t c điện thoại liên lạc với bị cáo T để bán xe, bị cáo A điều khiển xe mô tô biển số 86R2-0280 trộm cắp được đến gặp T gạ bán xe mô tô. Sau khi biết xe mô tô do A tiếp t c trộm cắp mà có nên bị cáo T không đồng ý mua nữa nên bị cáo A điều khiển xe mô tô đến chòi rẫy thAh long bỏ hoAg gần đó cất giấu rồi bỏ về. Đến ngày 26.7.2022 Công A thị trấn PRC, huyện TP mời bị cáo A và bị cáo T đến làm việc bị cáo A và bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 02 chiếc xe mô tô biển số 86B2-099.65 và biển số 86R2-0280.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận:

+ 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen trị giá: 18.300.000 đồng/chiếc x 50% = 9.150.000 đồng.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận:

+ 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen trị giá: 18.300.000 đồng/chiếc x 40% = 7.320.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Lê Văn A02 lần trộm cắp tài sản có tổng giá trị tài sản là: 9.150.000 đồng + 7.320.000 đồng = 16.470.000 đồng (Mười sáu triệu, bốn trăm bảy mười ngàn đồng).

Vì vậy, Bản cáo trạng số: 181/CT/VKSTP-HS ngày 09/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện TP, truy tố bị cáo Lê Văn Avề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Lê Văn Avề tội: “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Lê Văn Avà bị cáo Hồ Hữu Tlà công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lê Văn Ahận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nhưng không do sức lao động của bản thân làm ra. Bị cáo lấy việc trộm cắp làm nguồn sống cho bản thân, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản nhiều lần của nhiều bị hại có tổng giá trị là 16.470.000 đồng (Mười sáu triệu, bốn trăm bảy mười ngàn đồng) và giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trong thời giA ngắn. Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp, với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm hại tới quyền s hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị A tại địa. Đối với bị cáo Hồ Hữu Tvì tham lam, hám lợi nên bất chấp quy định của pháp luật, bị cáo đã Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có, đây c ng là hành vi tiếp tay cho bị cáo A nên cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo d c và tuyên truyền phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Lê Văn Acó 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lần này phạm tội là tái phạm và đã 02 (Hai) lần trộm cắp tài sản (mỗi lần giá trị tài sản bị trộm cắp trên 2.000.000 đồng) đều cấu thành phạm tội. Do đó, bị cáo phạm tội hai lần tr lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Hồ Hữu Tcó 01 tiền án về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” chưa được xóa án tích lại tiếp t c phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Văn Avà Hồ Hữu Tđã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Sau khi định giá, Cơ quA cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B2-099.65 cho Trương Thị ThAh H, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86R2-0280 cho Nguyễn Thị Kim Y, Hoa và Yến không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Aphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Amức án 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt ngày 15/9/2022

[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hữu Tphạm tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Xử phạt: Bị cáo Hồ Hữu Tmức án 15 (Mười lăm) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ bắt ngày 15/9/2022.

[3] Biện pháp tư pháp: Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Buộc bị cáo Lê Văn Aộp ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn AHồ Hữu Tmỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

Án xử công khai có mặt bị cáo, hị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/12/2022)./.

Cỡ chữ