vanban.org

Bản án 201/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 16/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Điều: 116, 117, 118, 119, 466, 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015;

Điểm c Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luâ ̣t về lai, lãi suất, phạt vi phạm;̃ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Các Điều: 116, 117, 118, 119, 466, 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2022/DS-ST.
Ngày: 16-09-2022.
Về việc: “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1, Bà Quang Thị Ngà.

2, Ông Tô Văn Ngo ̣c.

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 05 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXX-ST ngày 30 tháng 08 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Vương Xuân Tr, sinh năm 1960; Trú tại đi ̣a chỉ : Thôn Mg, xã Đ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Người đại diê ̣n theo ủy quyền: Văn phòng Luâ ̣t sư ĐHT do ông Vũ Khắc H

- Trưở ng Văn phòng đa ̣i diê ̣n ; Đi ̣a chi liên hê ̣ : Số x, Tổ y, thị trấn Đông Anh ,

̉

huyê ̣n Đông Anh, thành phố Hà Nội (Theo hợp đồng ủy quyền ngà y 04/01/2022).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1959; Trú tại đi ̣a chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vương Thị H, sinh năm 1963 (Là vợ ông Tr ); Nơi thườ ng trú : Thôn M, xã Đ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Đã chết 2018).

- Ngườ i kế thừ a quyền và nghia vụ của bà H: Ông Vương Xuân Tr, sinh năm

̃

1960 (Là chồng bà H); Chị Vương Thị L, sinh năm 1985 và anh Vương Xuân Th , sinh năm 1987 (Là các con ông Tr, bà H); Cùng trú tại địa chỉ : Thôn M, xã Đ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ; Chị Vương Thị Thùy D , sinh năm 1990 (Là con ông Tr, bà H): Trú tại địa chỉ : Đội 5, thôn BK, xã B, huyê ̣n Kh , tỉnh Hưng Yên.

- Có mặt: Ông H, bà Th.

- Vắ ng mặt: Ông Tr, anh Th, chị L và chị D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 05 tháng 01 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn là ông Vương Xuân Tr và ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của ông Tr là ông Vũ Khắc H trình bày:

Giữa ô ng Vương Xuân Tr và bà Nguyễn Thị Th ở cùng thôn M, xã Đ có quan hệ gia đình bên ngoại: Mẹ đẻ ông Tr là bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Th là chị em con chú, con bác ruô ̣t , ông Tr gọi bà Th là dì họ . Giữa ông Vương Ngọc T chồng bà Th và bà Vương Thị H vợ ông Tr là chú cháu họ trong nội tộc.

Năm 2011, biết gia đinh ông Tro bán đất làm nhà vẫn còn tiền chưa sử du ̣ng

̀ đến, bà Th có hỏi vay để làm vốn kinh doanh , buôn bán ông Tr, bà H đồng ý vớ i thỏa thuận trả lãi 1000đ/1triê ̣u/1ngày, cụ thể:

- Lần 1: Ngày 08 tháng 07 năm 2011, cho bà Th vay 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triê ̣u đồng).

- Lần 2: Ngày 12 tháng 07 năm 2012, cho bà Th vay 300.000.000đ (Ba trăm triê ̣u đồng).

Khi vay và trả tiền gốc và lai suẫ

́t, bà Th đều tự tay ghi nô ̣i dung số tiền vay, trả lãi, trả gốc và còn nợ vào cuốn sổ tay cho vợ chồng ông Tr giữ làm tin.

Sau mô ̣t thờ i gian vay trả lai theo thõ

̉a thuâ ̣n, ngày 22 tháng 12 năm 2011, bà Th đa trả cho vợ̃

chồng ông Tr được 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triê ̣u đồng) tiền gốc, còn nợ lại 300.000.000đ (Ba trăm triê ̣u đồng) tiền gốc. Hai bên thỏa thuâ ̣n trả lãi 9%/năm theo Ngân hàng nhà nướ c quy đi ̣nh.

Trong hai năm 2012 - 2013, do ông Tr đòi nợ nhiều lần, bà Th có trả được 03 lần tiền lai, tỗ

̉ng cô ̣ng là 22.000.000đ (Hai mươi hai triê ̣u đồng) và trả thông qua bà K là em ruột bà H được 05 lần, mỗi lần 2.000.000 đồng, cô ̣ng là 10.000.000đ (Mườ i triê ̣u đồng ) tiền lai. Tỗ

̉ng cô ̣ng bà Th đa trã ̉ được cho vợ chồng ông Tr là 32.000.000đ (Ba mươi hai triê ̣u đồng) tiền lai.̃

Năm 2016, khi ông Tr đi trên đườ ng làng gă ̣p ông T chồng bà Th có nhắc viê ̣c trả tiền thì hai bên xảy ra xô xát, đánh nhau, Công an phải giải quyết.

Ngày 07 tháng 08 năm 2018, bà H chết, bà Th vẫn không trả tiền vay và có ý chây i không trả nên ông phải khở i kiê ̣n yêu cầu Tòa án giải quyết : buô ̣c bà Th trả

̀ cho ông số tiền gốc vay và lai suẫ

́ t theo thỏa thuâ ̣n 9%/năm tinh từ ngày 22 tháng

́ 11 năm 2011 đến nay.

Tại các Biên bản ghi lờ i khai ngày 04 và 19 tháng 08 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án, bị đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thi ̣ Th trình bày: Bà công nhâ ̣n có vay vợ chồng ông Vương Xuân Tr, bà Vương Thi ̣ H 02 lần tiền tổng cô ̣ng là 540.000.000 đồng vớ i lai suẫ

́t thỏa thuâ ̣n như ông Tr trình bày trên.

Theo bà , sau khi trả cho vợ chồng ông Tr được 240.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ la ̣i 300.000.000 đồng tiền gốc nữa thì bà không trả được lai nữ

̃a do điều kiê ̣n buôn bán , kinh doanh của bà bị thua lỗ , nên bà có thỏa thuận với vợ chồng ông Tr là cho bà trả dần tiền gốc, mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Chính vì vậy, trong hai năm 2012-2013, bà mới trả cho vợ chồng ông Tr được số tiền là 32.000.000đ (Ba mươi hai triê ̣u đồng ), còn nợ lại 268.000.000 đồng từ đó đến nay. Hiê ̣n nay, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bà lại đang bị bê ̣nh hiểm nghèo, không làm gì ra tiền phải sống phu ̣ thuô ̣c vào chồng con, nên bà xin trả dần khoản nợ trên cho ông Tr mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi trả hết nợ gốc mà không phải trả lãi.

Những người kế thừ a quyền và nghĩa vụ của bà Vương Thị H là: Chị Vương Thị L, anh Vương Xuân Th và chị Vương Thị Thùy D cùng có lời khai thống nhất vớ i ông Tr về viê ̣c giải quyết khoản tiền cho vay đối với bà Th. Mọi việc liên quan đến giải quyết tranh chấp vớ i bà Th tại Tòa án, các anh chị đồng ý để ông Tr đa ̣i diê ̣n và toàn quyền quyết đi ̣nh.

Tại phiên tòa, các đương sự trong vụ án vẫn giữ nguyên lời khai yêu cầu và quan điểm của mình về việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện hoàn toàn đầy đủ các qui định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.

- Đương sự trong vu ̣ án đã chấp hành đầy đủ, nghiêm túc các thông báo và quyết định tố tụng của Toà án, đúng vớ i quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa , nguyên đơn là ông Vương Xuân Tr vắng mă ̣t nhưng đa cõ ́ ông Vũ Khắc H đa ̣i diê ̣n tham gia; Chị Vương Thi ̣ L, anh Vương Xuân Th và chị Vương Thi ̣ Thùy D vắng mă ̣t nhưng đều có đơn xin vắng mă ̣t.

Về đường lối giải quyết vụ án: Xác định yêu cầu đòi tiền cho vay của ông Vương Xuân Tr đối với bà Nguyễn Thi ̣ Th là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều: 116, 117, 118, 119 , Điều 466, 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015; Điểm c Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử :

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thi ̣ Th có trách nhiệm trả cho ông Vương Xuân Tr, bà Vương Thị H (do ông Tr đa ̣i diê ̣n nhâ ̣n) số tiền nợ cả gốc và lai lã ̀ 562.150.000 đồng.

- Về án phi: Bị đơn bà Nguyễn Thị Th thuô ̣c trườ ng hợp ngườ i cao tuổi nên

́ được miễn nô ̣p toàn bô ̣ tiền án phi phải chi ̣u.

́

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Nguyên đơn là ông Vương Xuân Tr khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Nguyễn Thi ̣ Th , ông Vương Ngo ̣c T trả cho ông và bà Vương Thị H số tiền gốc vay ngày 12 tháng 07 năm 2011 là 300.000.000 đồng, tính lãi suất theo Ngân hàng nhà nướ c quy đi ̣nh là 9%/năm từ ngày 22 tháng 12 năm 2011 đến nay. Tòa án nhân dân huyê ̣n Đông Anh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Bà Vương Thi ̣ H chết ngày 07 tháng 08 năm 2018, Tòa án xác định ông Tr, chị L, anh Th và chị D là người kế thừa quyền và nghia vu ̣̃

của bà H trong vu ̣ án.

- Theo đơn khở i kiê ̣n của ông Tr có xác định ông Vương Ngo ̣c T là bị đơn trong vu ̣ án. Quá trình giải quyết vụ án , bà Th khai xác đi ̣nh chi cỏ ́ bà đứ ng ra vay tiền của ông Tr , bà H để buôn bán , kinh doanh riêng, không liên quan đến ông T chồng bà. Viê ̣c ghi tên Th. T trong sổ nợ của ông Tr là để phân biệt vớ i ngườ i khác trong làng trùng tên vớ i bà nhưng khác tên chồng, ông Tr cũng nhất trí. Tòa án xác đi ̣nh ông Vương N gọc T không phải là bi ̣ đơn trong vu ̣ án và không dành quyền kháng cáo cho ông T là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, ông Vương Xuân Tr vắng mă ̣t nhưng đa cõ ́ ông Vũ Khắ c H là đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ; Chị Vương Thị L, anh Vương Xuân Th và chị Vương Thị Thùy D vắng mă ̣t lần thứ nhất nhưng đều có đơn xin vắng mă ̣t hợp lê ̣. Căn cứ vào các Điều: 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hô ̣i đồng xét xử vẫn quyết định đưa vụ án ra xét xử và dành quyền kháng cáo cho đương sự theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Giữa ông Vương Xuân Tr và bà Nguyễn Thị Th đều khai thống nhất viê ̣c bà Th có vay của vợ chồng ông Tr, bà H vay 02 lần tiền vào các ngày 08 và 12 tháng 07 năm 2011, tổng cô ̣ng là 540.000.000 đồng, có trả lãi theo thỏa thuận . Ngày 22 tháng 12 năm 2011, bà Th đa trả cho vợ̃

chồng ông Tr được 240.000.000 đồng gốc vay, còn nợ lại 300.000.000 đồng tiền gốc, nhưng hai bên có tranh chấp về viê ̣c trả lai vã ̀ số nợ gốc chưa thanh toán cho nhau.

Tại cuốn sổ ghi nợ do ông Tr giao nô ̣p ta ̣i Tòa án thể hiê ̣n:

“+ Ngày 8/7/2011, vay bác H. Tr = 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triê ̣u). Chữ ký và tên Nguyễn Thi ̣ Th.

+ Trả lãi ngày 9/9/2011;

+ Ngày 6/11/2011: Đa trã ̉ bác Tro = 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u chẵn); Đa ̃ trả lãi đến 8/11/2011.

+ Ngày 6/12/2011: Đa trã ̉ = 40.000.000đ (Bốn mươi triê ̣u ) còn nợ lại = 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u chẵn).

+ Ngày 22/12/2011: Trả Trọng = 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u chẵn). Tổng còn gốc = 300.000.000đ (Ba trăm triê ̣u chẵn)”.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Th khai công nhâ ̣n nô ̣i dung ghi vay tiền , trả lãi, trả gốc và còn nợ cùng chữ ký tên và dòng chữ Nguyễn Thi ̣ Th như trên là do chính tay bà viết và k ý, cho thấy viê ̣c bà Th vay tiền của vợ chồng ông Tr , bà H là có thâ ̣t. Tính đến ngày 22 tháng 11 năm 2011, bà Th còn nợ vợ chồng ông Tr , bà H 300.000.000 đồng tiền gốc.

Ông Tr xác định: Từ ngày 22 tháng 11 năm 2011, hai bên thỏa thuâ ̣n để bà Th trả lãi vay theo Ngân hàng nhà nướ c quy đi ̣nh là 9%/năm. Số tiền bà Th trả cho vợ chồng ông trong hai năm 2012-2013 được 32.000.000 đồng đều là tiền lãi nên vẫn bà còn nợ 300.000.000 đồng tiền gốc vay . Bà Th khai cho rằng: Từ tháng 12 năm 2011, bà không có khả năng trả nợ lãi nữa nên bà được vợ chồng ông Tr đồng ý không tinh lai mã

̀ cho trả dần tiền gốc mỗi tháng 2.000.000 đồng.

́

Xét thấy: Cuốn sổ ghi nợ chỉ thể hiện nội dung bà Th vay tiền của ông Tr, bà H có trả lãi nhưng không ghi cụ thể mức lãi suất phải trả là bao nhiêu. Mứ c lai suẫ

́t ông Tr khai là 9%/năm nhưng không được bà Th không công nhâ ̣n; Bà Th cũng không đưa ra được chứ ng cứ về viê ̣c vợ chồng ông Tr thỏa thuận không tinh lai .̃

́ Do đó, lờ i khai của các bên đều không có cơ sở chấp nhâ ̣n.

Khoản 2 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về viê ̣c trả lãi, nhưng không xá c đi ̣nh ro lã ̃i suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì á p dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà Nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Tại điểm c Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luâ ̣t về lai, lãi suất, phạt vi phạm như sau:̃

“c) Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.

…Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:

- Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015”.

Đối chiếu với hướng dẫn nêu trên thì thấy : Thờ i gian từ ngày 22 tháng 12 năm 2011 đến ngày 31 tháng 12 năm 2016, được áp du ̣ng Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 09%/năm; Thờ i gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến nay, lãi suất áp dụng được quy đi ̣nh ta ̣i Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là không được vượt quá 20%/năm của khoản vay ; Trườ ng hợp các bên có thỏa thu ận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lai suẫ

́t thi lai suẫ

́t được xác đi ̣nh bằng 50% mứ c lai suẫ

́t giớ i ha ̣n quy đi ̣nh

̀ tại khoản 1 điều này ta ̣i thờ i điểm trả nợ. Như vâ ̣y, viê ̣c ông Tr yêu cầu bà Th phải trả lãi trên nợ gốc vớ i mứ c 09%/năm kể từ khi châ ̣m trả đến nay là hoàn toàn phù hợp vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nên được chấp nhâ ̣n . Lãi suất bình quân 01 tháng tính được là 09%/năm : 12 tháng = 0,75%; Lãi suất binh quân ngày là 0,75%/tháng

̀ : 30 ngày = 0,025%.

Thờ i gian tinh lai của khoản tiền gốc vay bà Th phải trả cho vợ chồng ông Tr̃

́ kể từ ngày 22 tháng 12 năm 2011 đến ngày xét xử sơ thẩm 16 tháng 09 năm 2022 là 10 năm 08 tháng 22 ngày (tứ c 130 tháng 22 ngày).

Khoản tiền lãi được tính như sau : ( 300.000.000đ x 0,75%/tháng) x 130 tháng + (300.000.000đ x 0,025%/ngày) x 22 ngày = 294.150.000 đồng. Trừ số tiền lãi bà Th đa trã ̉ cho ông Tr , bà H là 32.000.000 đồng, bà Th còn phải trả cho vợ chồng ông Tr số tiền nợ cả gốc và lãi là: 300.000.000đ + (294.150.000đ – 32.000.000đ) = 562.150.000 đồng.

[2.2]. Chị Vương Thị L , anh Vương Xuân Th, chị Vương Thị Thùy D có quan điểm của để ông Tr đa ̣i diê ̣n nhâ ̣n toàn bô ̣ số tiền do bà Th trả là hoàn toàn tự nguyê ̣n, phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm : Bị đơn là bà Nguyễn Thi ̣ Th phải nộp án phí tương ứ ng vớ i nghia vu ̣̃

trả nợ cho ông Tr và tính được là 25.226.000 đồng. Theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hô ̣i thì, bà Th thuộc đối tượng ngườ i cao tuổi (63 tuổi) và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên bà được miễn nô ̣p toàn bô ̣ tiền án phi phải chi ̣u.

́

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[5]. Quan điểm về v iê ̣c giải quyết vu ̣ án của Viê ̣n kiểm sát hoàn toàn phù

hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Tòa án nên được chấp nhâ ̣n.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều: 116, 117, 118, 119, 466, 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015;

- Điểm c Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luâ ̣t về lai, lãi suất, phạt vi phạm;̃

- Khoản 3 Điều 26, Điều 220, Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Luật Thi hành án dân sự năm 2014;

Xử:

1/ Chấp nhận Đơn khởi kiện đòi tiền cho vay của ông Vương Xuân Tr đối với bà Nguyễn Thi ̣ Th.

2. Buộc bà Nguyễn Thi ̣ Th có trách nhiệm trả cho ông Vương Xuân Tr và bà Vương Thi ̣ H (Do ông Tr đa ̣i diê ̣n nhâ ̣n) số tiền vay cả gốc và lai suẫ

́t theo giấy xác nhâ ̣n nợ ngày 22 tháng 12 năm 2011 là 562.150.000đ (Năm trăm sáu mươi hai triệu, mô ̣t trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: 26.486.000đ (Hai mươi sáu triê ̣u, bốn trăm tám mươi sáu ngàn đồng) bà Nguyễn Thi ̣ Th phải nộp cả, nhưng bà Th thuô ̣c đối tượng ngườ i cao tuổi nên được miễn nô ̣p toàn bô ̣ tiền án phi phải chịu.

́

4. Về quyền kháng cáo:

4.1. Ông Vương Xuân Tr và bà Nguyễn Thi ̣ Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4.2. Chị Vương Thị L , anh Vương Xuân Th và chị Vương Thị Thùy D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hợp lê ̣ về phần có liên quan.

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ đối với khoản tiền chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả.

6. Trường hợp Quyết định thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ