vanban.org

Bản án 201/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/02/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Kim H không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng cho con. 4. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02/02/2021.
Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;

Ông Nguyễn Ngọc Hòa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Danh Đời – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 02 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án thụ lý số 451/2020/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2021/QĐXXST-DS ngày 27/01/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: 117 đường Phạm Văn Hai, Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Bùi Thị Kim H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: 785 Yishun Ave2 #12-1507, 760785, Singapore, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện ngày 12/11/2020, Bản tự khai ngày 21/01/2021, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông Tvà bà Bùi Thị Kim H kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 38/2014, quyển số 01/2014, ngày 15/7/2014. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó bà H đi nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. ông Txác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Bùi Thị Kim H. Về con chung: ông Tkhai ông và bà H 01 người con chung gồm: Nguyễn Duy Anh, sinh ngày 16/5/2016. ông Tyêu cầu sau khi ly hôn, bà H là người trực tiếp nuôi con và ông Tkhông cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: ông Tkhai tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, ông Tđề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung Văn bản trình bày ý kiến ngày 09/12/2020, bị đơn bà Bùi Thị Kim H trình bày: bà H xác nhận những lời trình bày của ông Tvề thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay ông Tyêu cầu ly hôn, bà đồng ý ly hôn và đồng ý yêu cầu của ông Tvề việc bà H trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Duy Anh, sinh ngày 16/5/2016. Đồng thời, do hiện nay ông đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài nên bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, ông Tkhởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H và bà H hiện đang cư trú tại 785 Yishun Ave2 #12-1507, 760785, Singapore nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét bản tự khai, Đơn xin vắng mặt, Giấy ủy quyền ngày 09/12/2020 của bà Bùi Thị Kim H đã được hợp pháp hóa lãnh sự của Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua lời trình bày của ông Tvà bà H, có cơ sở xác định: bà H và ông Tcó đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 38/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2014, tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Tlà hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, bà H đã định cư ở nước ngoài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Do hai bên đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay ông Tyêu cầu được ly hôn với bà H, bà H cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Tvà bà H.

- Về con chung: bà H và ông Tcó 01 người con chung tên Nguyễn Duy Anh, sinh ngày 16/5/2016. ông Tyêu cầu sau khi ly hôn, bà H là người trực tiếp nuôi con chung và ông Tkhông cấp dưỡng cho con. bà H thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của ông Toàn. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên.

- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: ông Tvà bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: 1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990 và bà Bùi Thị Kim H, sinh năm 1992. Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2014 cho ông Nguyễn Thanh T và bà Bùi Thị Kim H hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Về con chung: bà H và ông Tcó 01 người con chung tên Nguyễn Duy Anh, sinh ngày 16/5/2016. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà H và ông Tvề việc giao con chung tên Nguyễn Duy Anh, sinh ngày 16/5/2016 cho bà Bùi Thị Kim H trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Kim H không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng cho con.

1.4. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Thanh T chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Tđã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0093229 ngày 15/12/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. ông Tđã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Bùi Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ