vanban.org

Bản án 201/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Minh Q. Xác định cháu Nguyễn Minh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Minh Q - Nguyễn Thị Thu A"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN,
TỈNH ANGIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 6 – 2020
“V/v xác định con cho cha”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Hồ Thị Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Lũy

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân – Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm

2020 về tranh chấp xác định con cho cha theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

41/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Ngô Minh Q – sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: số 05 Đoàn kết, phường T, quận Đ, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Nơi làm việc: Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Thu A – sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-10-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn anh Ngô Minh Q trình bày:

Năm 2013 anh và chị Nguyễn Thị Thu A tự nguyện sống chung như vợ

chồng, không đăng ký kết hôn. Năm 2015 anh và chị A có 01 con chung tên Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015, sau khi sinh con vài tháng hai bên mâu thuẫn do không tin tưởng nhau về tiền bạc. Khi cháu Nhật được 06 tháng tuổi anh và chị A gửi con cho mẹ anh Q giữ dùm, vì anh Q đi làm, chị A bận mua bán. Năm 2016, anh biết được chị A làm giấy khai sinh cho cháu Nhật lấy họ mẹ và không có tên cha là anh, Giấy khai sinh số 116 ngày 07-7-2016 của Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, hai bên mâu thuẫn trầm trọng hơn, chị A bỏ đi, anh nuôi cháu Nhật từ đó đến nay. Anh liên hệ chị A làm lại giấy khai sinh của cháu Nhật, nhưng chị A từ chối và gây khó khăn cho anh. Để chứng minh cháu Nhật là con đẻ của mình, anh Q đã xét nghiệm AND xác định cháu Nhật là con đẻ của anh. Anh Q yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015 là con đẻ của anh. Ngày 12-6-2020 anh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị Thu A (là bị đơn) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: anh Ngô Minh Q khởi kiện chị Nguyễn Thị Thu A

yêu cầu xác định con cho cha, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Ngô Minh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị Thu A được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Ngô Minh Q và chị Nguyễn Thị Thu A.

Về nội dung:

Năm 2013 anh Ngô Minh Q và chị Nguyễn Thị Thu A sống chung như

vợ chồng, nhưng không đăng lý kết hôn theo luật định. Theo anh Q trình bày anh và chị A có 01 con chung tên Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015, nhưng chị A làm khai sinh cho cháu Nhật lấy họ mẹ và không ghi tên cha là anh Q vào giấy khai sinh. Nên anh Q yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015 là con đẻ của anh. Anh Q chứng minh bằng kết quả xét nghiệm AND, tại Phiếu kết quả xét nghiệm AND ngày 24-9-2019 của Trung tâm Công nghệ di truyền Việt Nam kết luận: mẫu AND ký hiệu Ngô Minh Q và mẫu AND ký hiệu

Nguyễn Minh Nhật có quan hệ huyết thống Cha – Con, với tần suất 99,9999822%.

Như vậy, có căn cứ xác định cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015 là con

đẻ của anh Ngô Minh Q. Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn

nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Minh Q, xác

định cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 23-01-2015 theo Giấy khai sinh số 116

ngày 07-7-2016 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang là con đẻ của

anh Ngô Minh Q.

Án phí hôn nhân sơ thẩm, ngày 12-6-2020 anh Ngô Minh Q có đơn đề

nghị miễn tiền tạm ứng án phí và án phí. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh

Ngô Minh Q được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định của pháp luật,

hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho anh Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Minh Q. Xác định cháu Nguyễn Minh

Nhật, sinh ngày 23-01-2015 theo Giấy khai sinh số 116 ngày 07-7-2016 của Ủy ban

nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang là con đẻ của anh Ngô Minh Q.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm:

- Anh Ngô Minh Q được miễn tiền án phí;

- Hoàn trả 300.000đ tiền tạm ứng án phí cho anh Ngô Minh Q theo biên lai

thu tiền số 0006455 ngày 06-02-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú

Tân, tỉnh An Giang.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ