- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà P và ông K"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Thái Thị P và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2018 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Hồng
2. Bà Trương Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018. Về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2018/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thái Thị P, sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Ấp LT 1, xã LP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt
- Bị đơn: Nguyễn Văn K, sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Ấp LT 1, xã LP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Trụ sở: Số 02, Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Xuân D, sinh năm: 1974
Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Long Mỹ.
Địa chỉ: Khu vực 2, phường TA, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Thái Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị P và ông Nguyễn Văn K kết hôn với nhau vào năm 1989 nhưng không có đăng ký kết hôn, hôn nhân do vợ chồng ông bà cùng tự nguyện.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng ông bà đã ly thân từ năm 2002 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Về con chung: có 2 cháu tên Nguyễn Thị Thúy An (giới tính: nữ) sinh năm 1993 và Nguyễn Thị Thùy Dương (giới tính: nữ) sinh năm 1990. Hiện các cháu đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì ông K có vay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Long Mỹ số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi ly hôn bà P yêu cầu ông K có trách nhiệm trả số tiền trên cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn K trình bày: Ông K cũng thừa nhận lời trình bày của vợ ông bà Thái Thị P về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung cũng như nguyên nhâu mâu thuẫn của vợ chồng ông là đúng. Nay bà P yêu cầu ly hôn thì ông K cũng đồng ý. Về con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu; Về tài sản chung không có, không yêu cầu; Về nợ chung: Ông K đồng ý tiếp tục trả số tiền đã vay trên cho phía ngân hàng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Long Mỹ ủy quyền bà Lê Thị Xuân D trình bày: ông K có vay của ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng, bà P đứng tên thừa kế. Từ ngày vay cho đến nay ông K vẫn trả vốn và đóng tiền lãi đầy đủ cho phía ngân hàng. Nay vợ chồng bà P và ông K ly hôn, ông K đồng ý đứng ra trả số tiền trên cho phía ngân hàng thì ngân hàng cũng đồng ý. Vì vậy ngân hàng từ chối tham gia tố tụng trong vụ án này, nếu sau này ông K không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh huyện Long Mỹ đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Xuân D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về hôn nhân: Bà P và ông K có tổ chức lễ cưới vào năm 1989 có xác nhận của gia đình 2 bên nhưng vợ chồng ông bà không đi đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống hạnh phúc thời gian dài thì vợ chồng bà P, ông K xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận bà Thái Thị P và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng.
Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà P và ông K cùng thống nhất vợ chồng ông bà có nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 50.000.000 đồng. Ông K tự nguyện tiếp tục trả số tiền trên cho Ngân hàng. Đại diện ủy quyền của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Long Mỹ cũng đồng ý để ông K tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng và có đơn từ chối tham gia tố tụng trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ tách thành vụ kiện dân sự khác khi phía Ngân hàng có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, 15 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Thái Thị P và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng
[2] Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét.
[3] Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.
[4] Về nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Long Mỹ đối với ông Nguyễn Văn K khi có yêu cầu.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thái Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được chuyển từ tạm ứng án phí đã nộp sang án phí theo lai thu số 0015622 phiếu lập ngày 13 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[6] Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2018). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh huyện Long Mỹ đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Xuân D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi người liên quan đang cư trú.
| Nơi Nhận: - VKSND thị xã Long Mỹ; - THADS thị xã Long Mỹ; - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - UBND xã LP; - Lưu HS; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Đào Thị Thủy |