vanban.org

Bản án 200/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn anh Nguyễn Khánh H.

Về con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 06/01/2014 và Nguyễn Kim E, sinh ngày 10/6/2017, hiện các con đang chung sống với chị Nguyễn Thị R. Khi ly hôn, tiếp tục giao các con cho chị R trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ anh Nguyễn Khánh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền đến t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị R - Nguyễn Khánh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn anh Nguyễn Khánh H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2026/HNGĐ-ST
Ngày 14 – 5 – 2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Minh Hoàng. 2. Ông Hồ Quang Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong, là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 291/2026/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1977; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 06/5/2023, nơi cấp: Cục C về TTXH; Địa chỉ: Ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khánh H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân, chị Nguyễn Thị R và anh Nguyễn Khánh H chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống, chị R cho rằng giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H thường xuyên đánh đập chị nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện chị không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung, chị Nguyễn Thị R và anh Nguyễn Khánh H chung sống với nhau có 02 người con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 06/01/2014 và Nguyễn Kim E, sinh ngày 10/6/2017. Hiện các con đang chung sống với chị R nên khi ly hôn, chị R yêu cầu được nuôi các con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, riêng các cháu có nguyện vọng được chung sống với chị R.

Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Thị R khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đồng thời, chị Nguyễn Thị R (nguyên đơn) đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. Đối với anh Nguyễn Khánh H (bị đơn), Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt, không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không có lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 141/2015, ngày 14/8/2015 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Mặc dù, trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình đều đó cho thấy bị đơn không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn là có căn cứ. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận.

Về con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 06/01/2014 và Nguyễn Kim E, sinh ngày 10/6/2017, hiện đang chung sống với nguyên đơn. Mặc dù, bị đơn không gửi ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu về con của nguyên đơn nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hiện các cháu đang chung sống cùng nguyên đơn đã ổn định, việc các đương sự ly hôn đã phần nào làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và tâm lý của cháu. Hơn nữa, các cháu có nguyện vọng chung sống với nguyên đơn. Do đó, để giảm bớt việc ảnh hưởng tâm lý, việc học tập và xáo trộn cuộc sống bình thường của con trẻ nên yêu cầu về con của nguyên đơn được chấp nhận.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, nguyên đơn không đặt ra yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn anh Nguyễn Khánh H.

- Về con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 06/01/2014 và Nguyễn Kim E, sinh ngày 10/6/2017, hiện các con đang chung sống với chị Nguyễn Thị R. Khi ly hôn, tiếp tục giao các con cho chị R trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ anh Nguyễn Khánh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Thị R khai không có, nên không đặt ra xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Nguyễn Thị R phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 23/3/2026, chị R đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0002928 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ