- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "l t"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đối với bị đơn anh Phạm Văn T. Chị L được ly hôn với anh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| KHU VỰC 12 - TÂY NINH Bản án số: 200/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quốc
2. Ông Lê Đình Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 770/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2026/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/8/2021; địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: anh Phạm Văn T, sinh năm 1980; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/8/2021; địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Đến nay chị và anh T chung sống được khoảng 20 năm, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh). Trong thời gian chung sống với chị, anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị khuyên nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, anh T đi làm không đưa tiền phụ chị trang trải chi phí trong gia đình mà để tiêu xài cá nhân, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên chửi, đuổi chị ra khỏi nhà. Nay chị nhận thấy hôn nhân giữa chị và anh T không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Có 02 người tên là Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 04/10/2005 và Phạm Nguyễn Hồng S, sinh ngày 01/9/2012. Cháu T1 đã thành niên nên chị không yêu cầu giải quyết, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu S, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nữ trang ngày cưới vợ chồng chị đã bán trong thời gian còn chung sống nên chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Phạm Văn T.
Về con chung: cháu Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 04/10/2005 đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không giải quyết; giao cháu Phạm Nguyễn Hồng S, sinh ngày 01/9/2012 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị L và anh T chung sống với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị L có yêu cầu ly hôn với anh T, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của chị L: Theo chị L khai, giữa chị và anh T có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm gia đình, tiền đi làm có tiền chỉ để tiêu xài cá nhân, chị khuyên thì bị anh T chửi, đuổi chị ra khỏi nhà, nay chị kiên quyết ly hôn với anh T. Đối với anh T, từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, chứng tỏ anh T không có thiện chí đoàn tụ, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị L, cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 người, cháu Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 04/10/2005 đã thành niên, tự lao động sinh sống được, chị L không yêu cầu nên không giải quyết; cháu Phạm Nguyễn Hồng S, sinh ngày 01/9/2012 hiện đang sống chung với chị.
Xét yêu cầu nuôi cháu S của chị L: tại biên bản làm việc ngày 18/5/2026 cháu S có nguyện vọng được sống chung với mẹ (chị L), xét thấy nguyện vọng này phù hợp với yêu cầu của chị L nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết, anh T vắng mặt không thể hiện ý kiến nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu giải quyết, anh T vắng không thể hiện ý kiến nên không có cơ sở xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị L phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đối với bị đơn anh Phạm Văn T. Chị L được ly hôn với anh T.
2. Về con chung: Chị L và anh T có 02 người con chung tên Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 04/10/2005 và Phạm Nguyễn Hồng S, sinh ngày 01/9/2012.
Con chung tên Phạm Thị Hồng T1 đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không giải quyết.
Giao cho chị L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Nguyễn Hồng S. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0014359 ngày 05/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 12 - Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Phòng THADS khu vực 12 - Tây Ninh; - Ủy ban nhân dân xã Thạnh Đức; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Quyên |