- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huỳnh Minh L - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nguyễn Huỳnh Minh L 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2025/HS-ST Ngày: 24/4/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Đức Hạnh
2/ Bà Phan Ngọc Huệ
3/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông NguyễnThanh Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
45/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1794/2025/QĐXXST-HS ngày 03/4/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huỳnh Minh L, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1998 tại
tỉnh ĐT; Thường trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh T; trình độ học vấn: 6/12; nghề
nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T và bà Huỳnh Thị Ngọc Đ; chưa có vợ,
con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 22/9/2014, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 05
năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2014/HSST
ngày 22/9/2014, do thời điểm phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không tính để xác
định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Bị bắt, tạm giam ngày 15/01/2024 (có mặt tại phiên toà).
+ Người bào chữa:
Luật sư Lương Văn Th, Công ty Luật ĐV, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ
Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L (có mặt).
+ Bị hại: Ông Đào Đặng Nhật D; sinh năm 2004; địa chỉ: C6 ấp 3A, xã V,
Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Đào Đặng Nhật D: Ông Trần
Ngọc V - Luật sư của Công ty Luật TNHH TSN thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Huỳnh Minh L cùng các anh Đào Đặng Nhật D, Lê Hoàng P,
Huỳnh Thanh H làm chung công việc giao nước đá và ăn uống sinh hoạt tại nhà số 849 Ba Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/10/2023, anh H, anh H và L đi uống bia tại
một quán ở Quận B (không rõ địa chỉ). Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh P điều khiển xe mô tô về trước, còn L và anh H đi bộ về sau. Khi về đến nhà số 849 Ba Đình, Phường 10, Quận 8, giữa anh P và L nói chuyện lớn tiếng. Lúc này, anh D đang ở trên gác gỗ nói “chúng mày làm gì mà ồn ào vậy”, nên Lvà anh D xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. Sau đó, L đi từ tầng trệt lên cầu thang gác gỗ để gặp anh D, khi đến khoảng giữa cầu thang L nhìn thấy 01 con dao bấm bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 21 cm (cán dao dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài khoảng 09 cm) nên cầm theo. Tại gác gỗ, L hỏi anh D “thằng nào mới nói” đồng thời cầm con dao bấm trên tay phải bấm mũi dao ra, anh D trả lời “tao” và đứng lên đối diện với L. L cầm con dao bấm trên tay phải đâm anh D hướng từ phải qua trái nhiều nhát vào bên hông trái của anh D. Anh D ôm người của L lại thì Ltiếp tục cầm dao trên tay phải đâm nhiều nhát vào lưng, làm anh D ngã gục xuống nền nhà (L không xác định được cụ thể đâm anh D bao nhiêu nhát do lúc đó đã say). Lúc này, bà Lê Thị L1 (là chủ nhà số 849 Ba Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đang ở trong phòng nghe tiếng tri hô nên chạy lên gác ôm giữ L lại, anh H tước đoạt con dao bấm từ tay của L. Sau đó, anh Trần Đình N (là con của bà L1) cùng anh P đưa anh D đi cấp cứu tại Bệnh viện Nguyễn Tri P, đến ngày 06/11/2023, anh D xuất viện.
Bản kết luận giám định pháp y số 991/KLTTCT-TTPY.2023 ngày
03/01/2024 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Đào Đặng Nhật D:
“1. Các kết quả chính:
- Năm vết thương vùng mạn sườn lưng trên trái gây đứt da, gãy xương
sườn VII, IX và xương vai, tràn khí – tràn dịch màng phổi, tổn thương phế nang phổi trái đã được điều trị đặt dẫn lưu, hiện còn:
+ Một sẹo kích thước 3,5 x (0,1-0,3) cm.
+ Một sẹo kích thước 2,5 x 0,4cm.
+ Một sẹo kích thước 1 x 0,1cm.
+ Một sẹo kích thước 1,7 x 0,1cm trùng sẹo dẫn lưu.
+ Một sẹo kích thước 8x(0,3-1)cm.
+ Hình ảnh gãy xương, tràn dịch màng phổi trên phim MSCT tại thời điểm
giám định.
+ Hội chứng hạn chế nhẹ trên kết quả đo chức năng hô hấp.
Năm vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy
hiểm đến tính mạng.
- Bốn vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
+ Một sẹo vùng mặt ngoài cánh tay trái kích thước 2,5 x 0,2cm.
+ Một sẹo vùng mặt sau vai – cánh tay phải kích thước 8x(0,2-0,6)cm.
+ Hai sẹo vùng lưng dưới trái kích thước 4,5 x(0,4-0,6)cm và 4,5 x 0,3cm.
Bốn vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động
gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y
tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào
Đặng Nhật D tại thời điểm giám định là 33% (Ba mươi ba phần trăm), áp dụng
phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Con dao như Cơ quan điều tra cung cấp gây ra được tất cả các vết
thương trên.
- Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật”.
Qua xác minh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn
Huỳnh Minh L.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A và Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Huỳnh Minh L khai nhận toàn bộ
nội dung như đã nêu trên, quá trình đâm anh Đào Đặng Nhật D, Lkhông xác
định được cụ thể đâm bao nhiêu nhát do lúc đó đã say, lời khai của Nguyễn
Huỳnh Minh L phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 con dao bấm bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài
khoảng 21 cm (cán dao dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài khoảng 09 cm).
Về dân sự: Anh Đào Đặng Nhật D yêu cầu bồi thường số tiền 120.000.000
đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-P2 ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L về
tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L đã thừa nhận các
hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Ông Đào Đặng Nhật D yêu cầu bồi thường số tiền 120.000.000 đồng (một
trăm hai mươi triệu đồng). Bị cáo đồng ý bồi thường cho ông Đào Đặng Nhật D số tiền nêu trên.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, bị hại cùng với các tài liệu
chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ N quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L về tội “Giết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L từ 13 đến 15 năm tù về tội “Giết người”;
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo bồi
thường cho bị hại Đào Đặng Nhật D số tiền 120.000.000 đồng. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L trình bày: Thống nhất
về tội danh truy tố nhưng mức án Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình khắc phục bồi thường cho bị hại tại cơ quan điều tra, tại phiên toà bị cáo cũng có trình bày ông bà để lại tài sản và bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn sớm, từ nhỏ ở với ông bà, học vấn tới lớp 6, ngày xảy ra sự việc bị cáo đã uống nhiều bia rượu nên ảnh hưởng đến khả năng nhận thức điều khiển hành vi, bị cáo không có sự chuẩn bị hung khí, không có ý định giết D, không có mâu thuẫn thù hằn gì với D trước đó nên đề nghị không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình. Bị cáo cũng tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị hại cũng đồng ý tha thứ cho bị cáo nên đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s, b, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự với mức hình phạt 7 đến dưới 12 năm cũng đủ sức răn đe và phù hợp với quy định pháp luật.
Luật sư Trần Ngọc V bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày:
Đồng ý về tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo. Luật sư của bị cáo cho
rằng hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ nhưng căn cứ án lệ số 17 thì
chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã dùng dao đâm bị hại nên hành vi của bị cáo
có tình chất côn đồ. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên đề
nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Luật sư của bị cáo đề nghị áp dụng
điểm b, t khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự đại diện Viện
kiểm sát nhận thấy đến thời điểm hiện tại bị cáo gia đình của bị cáo vẫn chưa bồi
thường cho bị hại. Việc bị cáo khai báo thành khẩn trong quá trình giải quyết vụ
án đã được đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn
khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 nên không có cơ sở xem xét
đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
đối với bị cáo. Luật sư của bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo không có tính chất
côn đồ, tuy nhiên chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng dao đâm bị
hại nhiều nhát, hành vi này của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ nên việc bị cáo
bị Viện kiểm sát truy tố theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có cơ
sở.
Bị cáo thống nhất với bào chữa của Luật sư và không tranh luận bổ sung.
Bị hại không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L, bị hại, luật sư bào chữa cho bị
cáo, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu
nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn
toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/10/2023, tại số nhà 849 Ba Đ, Phường A,
Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L đã dùng con dao bấm bằng kim loại, màu trắng dài khoảng 21 cm, cán dao dài khoảng 12 cm, lưỡi dao dài khoảng 09 cm, mũi nhọn, đâm nhiều nhát vào người Đào Đặng Nhật D cho đến khi anh D ngã gục và được mọi người can ngăn, gây thương tích 33% trong đó có năm vết thương gây nguy hiểm đến tính mạng của anh Đào Đặng Nhật D.
Với hành vi nêu trên, xét đã có cơ sở để kết tội bị cáo Nguyễn Huỳnh
Minh L phạm tội “Giết người”, thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L là nguy hiểm cho xã hội,
đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội
chưa đạt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét có thể áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đào Đặng Nhật D yêu cầu bồi thường số tiền 120.000.000 (một
trăm hai mươi triệu) đồng là tiền khám chữa bệnh, thu nhập thực tế bị giảm sút, chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc, bồi thường tổn thất về tinh thần. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên ghi nhận.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xét thấy, vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy: 01
(một) con dao bấm bằng kim lại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 21cm (cán
dao dài khoảng 12cm, lưỡi dao dài khoảng 09cm).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo
Nguyễn Huỳnh Minh L 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù
tình từ ngày 15/01/2024.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Đào Đăng Nhật D
với số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là
Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,
Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung
năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bấm bằng kim lại màu trắng, mũi nhọn,
dài khoảng 21cm (cán dao dài khoảng 12cm, lưỡi dao dài khoảng 09cm).
Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/180 ngày 13/01/2025 của
Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh L phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn)
đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.0000 (Sáu triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Cục THADS TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - Trại giam; (3) - Bị cáo; (3) - Luật sư; (2) - Bị hại; (4) - THAHS TP.HCM; (3) - PV06-CA TP. HCM; (1) -UBND xã nơi bị cáo cư trú; (3) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (28) (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |