- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy K - Võ Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/12/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Văn Hơn
2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh– Là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 235/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 648/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 531/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm: 1985 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
* Bị đơn: Võ Ngọc T, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thúy K là nguyên đơn có yêu cầu :
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Ngọc T do quen biết, có tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2020, anh chị đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp). Quá trình chung sống hạnh phúc với nhau không được bao lâu thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, không có tiếng nói chung. Chị K nhiều lần muốn hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm giữa anh chị đã không còn, mâu thuẫn ngày càng gay gắt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. * Bị đơn anh Võ Ngọc T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và anh T cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh T đối với yêu cầu ly hôn của chị K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Võ Ngọc T, sinh năm 1989, ngụ tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Ngọc T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của chị K nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Ngọc T.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2023 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị K, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Nhận thấy tình cảm giữa anh chị đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh T. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh T biết yêu cầu ly hôn của chị K nhưng anh T vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án ly hôn của anh với chị K như thế nào. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K với anh T là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K có yêu cầu ly hôn nên chị K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy K.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Ngọc T được ly hôn.
2/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006931 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, chị Nguyễn Thị Thúy K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Anh Võ Ngọc T không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân, tỉnh Đồng Tháp xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAT Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Tân Thới; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diễm Trinh Nguyễn Thị Diễm Trinh |