vanban.org

Bản án 200/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Chính Nh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Chính Nh 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/4/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 18/02/2023 đến ngày 27/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Chính Nh phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Chính Nh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2023/HSST
Ngày: 28/06/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Thái

- Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đình Cát – bà Nguyễn Thị Xuân Oanh

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh

- tỉnh Nghệ An.

- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 06 năm 2023; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2023/HSST ngày 08 tháng 06 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2023/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Chính Nh; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/01/1990 tại huyện Đ L, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm 6, xã Đ S, huyện Đ L, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Xóm 6, xã Đ S, huyện Đ L, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên Bố: Phan Chính M, sinh năm 1960; Họ tên Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Anh, chị, em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1994 (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006, Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2023 đến ngày 27/02/2023. Bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay - có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Trần Tuấn V, sinh năm 1991

Địa chỉ: xóm X H, xã Ngh Đ, thành phố V, Nghệ An

Anh V có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 17/02/2023, Phan Chính Nh điều khiển xe ô tô chở Lê Phương Th, sinh năm 1992 đi trên đường 35m thuộc địa phận xóm Xuân Hoa, xã Nghi Đức, thành phố Vinh về nhà Th thì bị Trần Tuấn Vũ, sinh năm 1991, trú tại xóm Xuân Hoa, xã Nghi Đức, TP Vinh điều khiển xe mô tô ép xe của Nh lại và nói “Mi đi kiểu chi mà ép xe tau”. Sau đó, Nh xuống xe cãi nhau với V thì xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, Th can ngăn nên Nh chở Th về nhà nhưng V vẫn phóng xe đuổi theo. Khi về đến nhà, Nh và Th vào nhà còn V đứng ở ngoài cổng chửi bới “Mi ra đây” và dọa gọi người đến đánh. Một lúc sau, do V vẫn đang chửi bới nên Nh bức xúc và đi ra cổng gặp V, khi đi ra, Nh cầm theo 01 (Một) con dao dài khoảng 30cm, cán làm bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 20cm có đầu sắc nhọn để ở sân nhà và giấu vào trong áo khoác. Khi Nh ra cổng, V cầm cổ áo của Nh lên rồi đấm một phát vào vùng trán của Nh, khi đó, do bị V đấm nên Nh dùng tay trái rút con dao ở trong áo khoác ra rồi chém 03 (Ba) nhát vào vùng mặt Trần Tuấn V (Một nhát trúng vào giữa trán gây vết thương hở giữa trán dài khoảng 03 cm hướng từ trên xuống dưới; một nhát trúng vào vùng dưới thái dương bên phải gây vết thương hở dưới thái dương phải dài khoảng 05cm hướng từ sau ra trước; một nhát trúng vào gò má phải gây vết thương hở ở vùng gò má phải dài khoảng 02cm). Sau đó, được mọi người can ngăn nên hai bên dừng lại, V được người dân đưa đến Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An để điều trị vết thương, còn Nhật được Công an xã Nghi Đức đưa về trụ sở làm việc. Tại Công an xã Nghi Đức Nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Phan Chính Nh đã xin đầu thú và giao nộp 01 con dao dài khoảng 30cm, cán làm bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 20cm có đầu sắc nhọn.

Cùng ngày 17/02/2023, Trần Tuấn Vũ có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự và giám định tỷ lệ thương tật. Trần Tuấn V điều trị vết thương tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ ngày 17/02/2023 đến ngày 03/3/2023.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 126/KLTTCT-TTPYNA ngày 13/3/2023 cña Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Nghệ An kết luận mức độ tổn hại về sức khỏe của anh Trần Tuấn V như sau:

- Gãy xương gò má cung tiếp bên phải đã điều trị nội khoa, không ảnh hưởng chức năng.

- Một số sẹo vết thương tại các vị trí: Giữa trán; trước tai bên phải và gò má bên phải, không ảnh hưởng chức năng.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tuấn Vũ tại thời điểm giám định là 16% (mười sáu phần trăm)

Vật chứng vụ án: 01 con dao dài khoảng 30cm, cán làm bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 20cm có đầu sắc nhọn, được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

* Về dân sự: Anh Trần Tuấn V yêu cầu Phan Chính Nh bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số 215/CT-VKS-TPV ngày 08/06/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Phan Chính Nh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 30 đến 33 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy vật chứng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Chính Nh bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Tuấn V số tiền 62.280.000 đồng, tịch thu tiêu hủy vật chứng.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Định tội danh và điều luật áp dung: Vào khoảng 21 giờ 35 phút ngày 17/02/2023, tại trước cổng nhà ông Lê Hải Tr ở xóm Xuân Hoa, xã Nghi Đức, TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Do quá trình tham gia giao thông trên đường dẫn đến có xẩy ra cãi vã nhau giữa Phan Chính Nh và Trần Tuấn V, nên Phan Chính Nh đã dùng 01 con dao dài khoảng 30cm, cán làm bằng gỗ dài khoảng 10 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 20cm có đầu sắc nhọn chém 03 nhát vào vùng mặt anh V, thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 16% (mười sáu phần trăm). Do đó, hành vi của bị cáo Phan Chính Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Đánh giá về mức độ hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo là người đã thành niên và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ do tức giận đối với bị hại mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm chém 3 nhát vào vùng mặt của bị hại gây thương tích là 16 %. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khoẻ của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Chính Nh không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân xấu

+ Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại anh Trần Tuấn V yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 256.280.000 đồng bao gồm: Tiền thuê phương tiện: 1.000.000 đồng; tiền chi phí khám bệnh không tính bảo hiểm: 11.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất: 6.400.000 đồng; chi phí người nhà chăm nuôi: 4.000.000 đồng; chi phí ăn, ở, đi lại: 2.400.000 đồng; tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng; chi phí thuê người đưa đón con đi học: 480.000 đồng; chi phí giám định thương tật: 2.000.000 đồng; tiền thuốc giảm đau, kháng sinh, … ngoài bảo hiểm 16.000.000 đồng; thuốc bổ, … thực phẩm chức năng: 10.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 10.000.000 đồng; châm cứu bấm huyệt: 3.000.000 đồng; tổn thất tinh thần của gia đình: 10.000.000 đồng; tổn thất sức khỏe cùng các di chứng: 100.000.000 đồng; chi phí thẩm mỹ: 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Chính Nh chấp nhận bồi thường các khoản sau: Tiền thuê phương tiện: 1.000.000 đồng; tiền chi phí khám bệnh không tính bảo hiểm: 11.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất: 6.400.000 đồng; chi phí người nhà chăm nuôi: 4.000.000 đồng; chi phí ăn, ở, đi lại: 2.400.000 đồng; tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng; chi phí thuê người đưa đón con đi học: 480.000 đồng; chi phí giám định thương tật: 2.000.000 đồng. Tổng 57.280.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại về buộc bị cáo phải bồi thường các khoản sau: Tiền thuê phương tiện: 1.000.000 đồng; tiền chi phí khám bệnh không tính bảo hiểm: 11.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất: 6.400.000 đồng; chi phí người nhà chăm nuôi: 4.000.000 đồng; chi phí ăn, ở, đi lại: 2.400.000 đồng; tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng; chi phí thuê người đưa đón con đi học: 480.000 đồng; chi phí giám định thương tật: 2.000.000 đồng. Tổng 57.280.000 đồng.

Đối với yêu cầu số tiền hậu quả để lại 3 vết sẹo lớn trên mặt tổn thương xương hàm, rạn xương mặt đau mỗi khi trái trời, yêu cầu tiền thẩm mỹ: 50.000.000 đồng chưa phát sinh thực tế nên bị hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự khác.

Đối với yêu cầu bồi thường: Tiền thuốc giảm đau, kháng sinh, … ngoài bảo hiểm 16.600.000 đồng; thuốc bổ, … thực phẩm chức năng: 10.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 10.000.000 đồng; chi phí bấm huyệt: 3.000.000 đồng; tổn thất tinh thần của gia đình: 10.000.000 đồng; tổn thất sức khỏe cùng các di chứng: 100.000.000 đồng, bị hại không xuất trình được các hóa đơn, chứng từ, tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 30 cm, cán dao dài 10 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, có đầu sắc nhọn, dài 20 cm, rộng nhất khoảng 7cm, được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

Về án phí: Bị cáo Phan Chính Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Chính Nh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Chính Nh 30 (ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/4/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 18/02/2023 đến ngày 27/02/2023.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584 và 590 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Phan Chính Nh phải bồi thường cho anh Trần Tuấn v số tiền 57.280.000 đồng (năm mươi bảy triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng chẵn)

Kề từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của anh Trần Tuấn V cho đến khi thi hành xong số tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo Phan Chính Nh còn phải chịu lãi suất của số tiền chậm thi hành theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 30 cm, cán dao dài 10 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, có đầu sắc nhọn, dài 20 cm, rộng nhất khoảng 7cm, được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2023/216 ngày 27/06/2023.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Phan Chính Nh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí HSST và phải chịu 2.864.000 đồng (hai triệu, tám trăm sáu mươi tư ngàn đồng chẵn) án phí DSST.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Chính Nh, bị hại Trần Tuấn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ