vanban.org

Bản án 200/2022/HSTP

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/05/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 153/2022/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T.

Về phần án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vũ Thái T T, phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 153/2022/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2022/HS-PT
Ngày: 15 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn

Các Thẩm phán: Ông Trương Ngọc Hồng

Bà Nguyễn Diệu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo T, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 153/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: T, sinh ngày 22/4/1999; Nơi sinh: thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 262, đường K, phường KH, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn và bà Thái Mỹ Y; Chồng, con: chưa có; Anh ruột: 01 người, sinh năm 1995; Chồng: Nguyễn Anh T; Con có một người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được tại ngoại cho đến nay. (Có mặt)

- Người bị hại: Nguyễn Lê Phương T, sinh năm 2003.

Địa chỉ: Căn B1- Tầng 6, số 444 đường Ngô Quyền, phường L, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lê Phương T và Đoàn Kim Như Ý tại thời điểm xảy ra vụ án đều là học sinh lớp 12, trường Trung học phổ thông Võ Văn Kiệt thuộc phường An Hòa, thành phố Rạch Giá. Vào khoảng 10 giờ ngày 14/4/2021, do có mâu thuẫn từ trước nên giữa T và Như Ý xảy ra cự cãi, đánh nhau trong nhà vệ sinh của trường. Sau đó, Như Ý dùng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng Messenger kể sự việc cho T và nhờ T gặp T nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, T đồng ý. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, T dùng tài khoản Messenger có tên “T” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T qua tài khoản Messenger “Phương T” hẹn gặp mặt nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, T đồng ý. Cả hai hẹn gặp nhau lúc 19 giờ cùng ngày tại khu vực công viên cặp đường số 5, khu đô thị Tây Bắc, phường Vĩnh T, thành phố Rạch Giá.

Sau đó, T dùng tài khoản Messenger nhắn tin rủ Võ Dĩnh Kỳ, Như Ý rủ Nguyễn Phát Tài, Nguyễn Lê Duy đi cùng (khi rủ T và Như Ý chỉ nói đi nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn với T chứ không nói là đi đánh nhau) thì Kỳ, Duy, Tài đồng ý. Ngoài ra, T nói lại sự việc cho bạn trai của T là Nguyễn T Tùng nghe, khi đó Trần Quang Vinh là bạn của Tùng và T cũng có mặt nên biết được vụ việc.

Nguyễn Lê Phương T rủ Quách Phong Thạnh, Thái Lê Nguyễn Quốc Kỳ cùng đi. Thạnh, Quốc Kỳ đồng ý và Quốc Kỳ rủ thêm Nguyễn Đức Thiện, Bùi Khánh Quân.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, Duy điều khiển xe mô tô chở Như Ý, Tài điều khiển xe mô tô biển số: 68S1-708.78 từ nhà Như Ý đến nhà T chở T cùng đi đến nơi hẹn. Khi đến, nhóm T tập trung trên vĩa hè đường số 5, đối diện công viên khu đô thị Tây Bắc. Sau đó, Võ Dĩnh Kỳ, Nguyễn T Tùng, Trần Quang Vinh cũng đến nhập bọn cùng với T. Khi đi Dĩnh Kỳ mang theo một cây dao Thái lan cán vàng, việc Dĩnh Kỳ mang theo dao nhóm Kỳ không ai biết. Khoảng 20 phút sau, nhóm T, gồm: Thạnh, Thiện, Quân, Quốc Kỳ đến nơi và tập trung phía bên công viên đối diện với nhóm T. Khi nhìn thấy T, T liền xông đến dùng nón bảo hiểm, màu đen đánh trúng vào vùng đầu của T một cái thì làm rơi nón bảo hiểm, T tiếp tục dùng một tay nắm đầu T, một tay đánh, dùng móng tay cào cấu vào vùng mặt T gây thương tích, dùng chân đạp vào vùng bụng T, T cũng dùng tay cào cấu vào vùng cổ và tay của T để đánh trả, gây thương tích cho T. Quốc Kỳ xông vào định can ngăn, nghĩ Quốc Kỳ định đánh T nên Dĩnh Kỳ dùng tay đẩy Quốc Kỳ ra, Tùng dùng tay đánh trúng vào mặt Quốc Kỳ một cái (không gây tương tích) thì Dĩnh Kỳ, Thiện, Quốc Kỳ và một số người khác (không xác định được là ai) của hai nhóm xông vào dùng các đoạn gỗ tràm có tại hiện trường đánh nhau. Hai nhóm đánh nhau được một lúc thì có một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) đến can ngăn T và T đồng thời giữ T lại. Trong lúc này, Vĩnh Kỳ dùng dao thái lan cán vàng mang theo đâm 01 (một) nhát vào vùng bụng của Thiện thì cả hai nhóm giải tán. Tùng đi đến chỗ người đàn ông kéo T ra, T lên xe mô tô cho Tài chở định chạy đi thì bị người đàn ông này ngăn cản, giữ T lại làm ngã xe mô tô dẫn đến T bị thương tích ở vùng gối phải, xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi bị ngã xe, T chạy bộ được một đoạn thì được Vinh chở về.

Hậu quả, T bị thương tích ở 02 cẳng tay và gối phải, Nguyễn Lê Phương T bị thương tích ở vùng mặt, Nguyễn Đức Thiện bị thương tích ở vùng bụng, những người khác không ai bị thương tích gì. Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Đức Thiện, được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị thương tích đến ngày 22/4/2021 thì xuất viện. T, T do thương tích nhẹ tự điều trị tại nhà.

Ngày 15/4/2021, cha ruột của Nguyễn Đức Thiện là ông Nguyễn Văn Trung có Đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với vụ việc trên.

Ngày 16/4/2021, Nguyễn Lê Phương T có Đơn đề nghị giám định pháp y thương tích và khởi tố vụ án hình sự đối với T.

Ngày 29/4/2021, ông Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Đức Thiện có đơn rút lại yêu cầu khởi tố vụ án và từ chối giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải Nguyễn Đức Thiện đi giám định thương tích nhưng Thiện không hợp tác, không thực hiện được việc giám định thương tích nên không có căn cứ xử lý đối với Võ Vĩnh Kỳ.

Đến ngày 24/8/2021, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong quá trình điều tra và truy tố, T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tại thời điểm xảy ra vụ việc T đang mang thai.

* Tại bản kết luận giám định pháp y số: 243, ngày 01/6/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận đối với Nguyễn Lê Phương T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng mặt phải (vết 1, 2) và vùng mặt trái (vết 1, 2).

- Hiện tại vùng đầu và vùng bụng không có dấu vết thương tích.

2. Tỷ lệ tổn thương có thể do thương tích gây nên hiện tại là: 15% (mười lăm phần trăm).

3. Vật gây thương tích: vật tày có cạnh.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 242, ngày 01/6/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận đối với T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết biến đổi sắc tố da vùng cẳng tay phải và cẳng tay trái.

- Sẹo phần mềm vùng gối phải (vết 1,2).

- Hiện tại vùng cổ không có dấu vết thương tích.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại, ở:

- Vùng cẳng tay phải là: 01% (một phần trăm).

- Vùng cẳng tay trái là: 01% (một phần trăm).

- Vùng gối phải: 04% (bốn phần trăm).

+ Vết 1 là: 02% (hai phần trăm).

+ Vết 2 là 02% (hai phần trăm).

- Vùng cổ là: 00% (không phần trăm).

3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 06% (sáu phần trăm).

4. Vật gây thương tích:

-Thương tích vùng cẳng tay phải và cẳng tay trái do vật tày có góc cạnh gây nên.

- Thương tích vùng gối phải do vật tày diện rộng gây nên.

- Thương tích vùng cổ, hiện tại không có dấu vết thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.

* Vật chứng trong vụ án:

- Cơ quan điều tra đã thu giữ tại hiện trường vụ án:

+ 12 (mười hai) đoạn gỗ tràm, dài, ngắn khác nhau.

+ 01 (một) cái nón bảo hiểm bằng nhựa, màu đen, phía trươc nón có logo huy hiệu vàng đồng, khắc chữ “Fashion, Demen, Mino's Style-Italy. + 01 (một) chiếc dép cao su màu trắng, xanh..

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 153/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

TT bố: Bị cáo T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 134; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo T 03 tháng tù (Ba tháng tù). Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tT xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19/5/2022, bị hại Nguyễn Lê Phương T có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo của bị hại.

- Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại đã có văn bản xin rút yêu cầu khởi tố dối với bị cáo T, xét việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của Bản án sơ thẩm:

Vào khoảng 10 giờ ngày 14/4/2021, cả hai xảy ra cự cãi, đánh nhau trong nhà vệ sinh của trường THPT Võ Văn Kiệt. Sau đó, Như Ý kể lại sự việc cho T nghe và nhờ T gặp Phương T nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, T dùng tài khoản Messenger nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Phương T hẹn gặp mặt nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, Phương T đồng ý. Cả hai hẹn gặp nhau lúc 19 giờ cùng ngày tại khu vực Công viên cặp đường số 5, khu đô thị Tây Bắc, phường Vĩnh T, thành phố Rạch Giá để giải quyết sự việc. Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 14/4/2021 tại khu vực Công viên cặp đường số 5, khu đô thị Tây Bắc, phường Vĩnh T, thành phố Rạch Giá; khi nhóm của T T và nhóm của Phương T gặp nhau; T liền xông đến dùng tay đánh, cào cấu vào vùng mặt của Phương T gây thương tích. Hậu quả, Nguyễn Lê Phương T bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%, thương tích là do vật tày có cạnh gây ra. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về kháng cáo của bị cáo:

Sau khi xét xử phúc thẩm ngày 19/5/2022 bị hại Nguyễn Lê Phương T có làm đơn kháng cáo vối nội dung yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, ngày 15/9/2022 bị hại Nguyễn Lê Phương T có đơn rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo T. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo yêu cầu HĐXX xem xét đơn rút yêu cầu khởi tố của bị hại. HĐXX nhận thấy, việc rút yêu cầu khởi tố, không yêu cầu xử lý hình sự của bị hại đối với bị cáo T là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật, trong khi bị cáo T thuộc trường hợp bị khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Vì vậy, áp dụng khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T; việc hủy bản án sơ thẩm trong trường hợp này cấp sơ thẩm không có lỗi.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị và không liên quan đến việc rút yêu cầu khởi tố đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự;

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 153/2022/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T.

2. Về phần án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm 153/2021/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang không bị kháng cáo, kháng nghị và không liên quan đến việc rút yêu cầu khởi tố đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tT án./.

Cỡ chữ