vanban.org

Bản án 200/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều O đối với ông Nguyễn Thanh T về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều O được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T (Giấy đăng ký kết hôn số 63/2019 ngày 10/6/2019 do Uỷ ban N dân thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành N, sinh năm 2020 cho bà Võ Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng và ông T có ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều O đối với ông Nguyễn Thanh T về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN N DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2022
V/v Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng.

Các Hội thẩm N dân:

Ông Nguyễn Văn Trung.

Ông Mai Văn Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Tòa án N dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án N dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 89/2022/TLST-HNGĐ về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều O, sinh năm 1997. Địa chỉ: Đường Đ, phường H, quận L, tp. Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Đường Đ, phường H, quận L, tp. Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà O và và ông Nguyễn Thanh kết hôn vào năm 2021, có Giấy đăng ký kết hôn số 63/2019 ngày 10/6/2019 do Uỷ ban N dân thị trấn Phú Phong, Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Đường Đ, phường H, quận L, tp. Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, đến khoảng cuối năm 2021 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Bà O nhận thấy rằng quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, tình cảm phai nhạt nên gia đình không hạnh phúc. Nay bà O xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho bà O được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Bà O và ông Nguyễn Thanh T có một con chung: cháu Nguyễn Thành N, sinh năm 2020. Ly hôn, bà O có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ mỗi tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: ông bà không nợ ai và không có tài sản chung nên không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do.

Theo văn bản có xác nhận của Tổ dân phố số 44 phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng, ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị Kiều O hiện đang cư trú địa phương. Trong quá trình chung sống thì giữa ông bà có phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc.

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của BLTTDS.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Kiều O đối với ông Nguyễn Thanh T.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung là: Nguyễn Thành N, sinh năm 2020 cho bà Võ Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng mỗi tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi

Về tài sản chung và nợ chung: Bà O xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát N dân quận Cẩm Lệ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2022 thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T và yêu cầu nuôi con chung, cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung”.

Về thẩm quyền của Tòa án: ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị Kiều O hiện đang cư Tổ 44 phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án N dân quận Cẩm Lệ có thẩm quyền giải quyết.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn bà Võ Thị Kiều O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Kiều O và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện kết hôn nhânăm 2021, theo Giấy đăng ký kết hôn số 63/2019 ngày 10/6/2019 do Uỷ ban N dân thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Đường Đ, phường H, quận L, tp. Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của bà O, HĐXX nhận thấy: sau khoảng thời gian sống chung, vợ chồng bà đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên N là do ông bà không tìm được tiếng nói chung, thường hay cãi vả và xô xát. Điều này trái với nghĩa vụ vợ chồng quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đinh. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Ngoài ra, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án N dân quận Cẩm Lệ tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Thanh T vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng hay để Tòa án tiến hành hòa giải, cũng không có ý kiến gì đối với quan hệ hôn nhân với bà O. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Thanh T không muốn hàn gắn và tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà O.

Do mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà O và ông Nguyễn Thanh T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà O xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Thanh T nữa nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Kiều O đối với ông Nguyễn Thanh T.

Về con chung và cấp dưỡng: bà Võ Thị Kiều O và ông Nguyễn Thanh T có 01 con chung là: cháu Nguyễn Thành N, sinh năm 2020. Ly hôn, bà O có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ mỗi tháng.

Xét yêu cầu của bà O thì thấy: Hiện nay cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi và đang sống với bà O. Trong quá trình giải quyết, ông T cũng không thể hiện ý kiến có mong muốn được nuôi dưỡng cháu N hay không. Do đó, để đảm bảo tính ổn định và những quyền lợi tốt nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn, HĐXX nhận thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thành N cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về mức cấp dường, HĐXX nhận thấy mức cấp dưỡng bà O yêu cầu là phù hợp và ông T không có ý kiến về mức cấp dưỡng nên chấp nhận, buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ mỗi tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2022.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà O xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Võ Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và ông T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng theo Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.

Xét thấy ý kiến của đại diện VKSND quận Cẩm Lệ tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, 56, 69, 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều O đối với ông Nguyễn Thanh T về việc ly hôn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều O được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T (Giấy đăng ký kết hôn số 63/2019 ngày 10/6/2019 do Uỷ ban N dân thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành N, sinh năm 2020 cho bà Võ Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng và ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đồng mỗi tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2022.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001796 ngày 29/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà O đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

4. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm N dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Du Nguyễn Văn Trung

Nguyễn Hữu Hưng

Cỡ chữ