vanban.org

Bản án 200/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/03/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị L; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm 07/2020/HC-ST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc: Hủy bỏ Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Thị L kiện GĐ Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị L; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm 07/2020/HC-ST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2022/HC-PT
Ngày: 22 - 3 - 2022
V/v: Khiếu kiện quyết định hành
chính về từ chối hỗ trợ kinh phí cất
bốc, và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Khương

Ông Lê Văn An

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 581/2020/TLPT-HC ngày 05 tháng 11 năm 2020 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về từ chối hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển bộ hài cốt liệt sĩ”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2020/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 391/2021/QĐ-PT ngày 15 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Trần Thị L, sinh năm 1964 (có mặt)

Địa chỉ: Số 10 hẻm 35, đường 30/4, khu phố 1, Phường 1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Lệ K, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: 55/14 D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Thị Thanh – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

- Người bị kiện:

1/Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh (xin xét xử vắng mặt).

2/Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Tây Ninh (xin xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Trần Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện bà Trần Thị L trình bày:

Cha bà Trần Thị L là Liệt sĩ Trần Ngọc P1, sinh năm 1926, hy sinh ngày 13/6/1972 tại thị xã P2 (nay là thành phố P2, tỉnh Hà Nam). Sau khi cha bà hi sinh thì được đơn vị đưa thi hài về quê an táng tại nghĩa trang nhân dân thôn V, xã T1, huyện B, tỉnh Hà Nam. Đến năm 1975, gia đình bà tự cất bốc hài cốt về nghĩa trang dòng họ tại thôn V, xã T1, huyện B, tỉnh Hà Nam (cùng trong thôn V).

Năm 1988, gia đình bà chuyển vào sinh sống tại Tây Ninh và chuyển hồ sơ liệt sĩ của cha bà vào Tây Ninh để hưởng chế độ, chính sách liên quan.

Sau khi mẹ mất, bà có tiếp xúc với anh em dòng họ, bạn bè mới biết còn một số chế độ chính sách về liệt sĩ được hưởng nhưng gia đình bà chưa được hưởng nên bà có liên hệ đến ngành Lao động - Thương binh, xã hội các cấp tại tỉnh Tây Ninh để xin các văn bản pháp luật, quy định, hướng dẫn về chế độ, chính sách như trình bày trên những ngành Lao động - Thương binh, xã hội các cấp tại tỉnh Tây Ninh đã cung cấp chậm nên bà có gửi đơn lên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để xin cung cấp tài liệu thì được đồng ý và cử cán bộ mang tài liệu đến cho bà, trong đó có Công văn số 3204/LĐTBXH-TTr ngày 24/8/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Qua nghiên cứu các tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bà phát hiện ra khi mẹ bà còn sống có những chế độ được hưởng nhưng thực tế không được hưởng, đã bỏ sót hàng loạt những chế độ, chính sách liên quan. Cụ thể, gia đình còn được hưởng chế độ: “Hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển bộ hải cố liệt sĩ” tại điểm b, c khoản 1, Điều 18 của Thông tư liên bộ số: 13/2014/TT BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014, nay là điểm b, c khoản 1 Điều 13 Thông tư SỐ: 101/2018/TT-BTC ngày 14/11/2018.

Theo Công văn số 3204/LĐTBXH-TTr, bà liên hệ đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T thì được hướng dẫn nộp đơn tại UBND Phường 1, thành phố T. Đến ngày 17/9/2019, UBND Phường 1 ban hành Công văn số 347/UBND trả lời đơn yêu cầu của bà. Bà không đồng ý, nên ngày 13/9/2019, bà có đến Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị chi hỗ trợ chế độ “Hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển bộ hài cốt liệt sĩ thì được trả lời chế độ không được hưởng, có gì thắc mắc thì gặp Trưởng Phòng Người có công thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh

Ngày 19/9/2019, bà đến Phòng Người có công thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh thì được trưởng phòng trả lời: Căn cứ Điều 18 của Thông tư liên bộ số 13/2014/TT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 thì gia đình bà không được hưởng chế độ.

Do không đồng ý Công văn số 347/UBND, ngày 07/10/2019, bà kiến nghị đến Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh. Ngày 17/10/2019, bà nhận được Công văn số 2542/SLĐTBXH ngày 16/10/2019 trả lời: “Trường hợp gia đình bà Trần Thị L không thuộc đối tượng để xem xét, thực hiện việc hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ”.

Không đồng ý với nội dung Công văn số: 2542/SLĐTBXH nên ngày 20/11/2019, bà gửi đơn khiếu nại lần đầu. Ngày 31/12/2019, bà nhận được quyết định số 3334/QĐ- SLĐTBXH ngày 27-12-2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh. Do không đồng ý với Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

- Hủy bỏ Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh.

- Buộc Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh thực hiện nhiệm vụ công vụ: Chỉ đạo Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

- Bồi thường thiệt hại do quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong thời gian 09 tháng cho gia đình bà Trần Thị L là 60.000.000 đồng và chi hỗ trợ kinh phí cất bộc và di chuyện hài cốt liệt sĩ 4.000.000 đồng.

- Yêu cầu xem xét, làm rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước sai phạm trong thực thi nhiệm vụ.

Người bị kiện - Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh có đơn xin giải quyết vắng mặt và có gửi Công văn số 1573/SLĐTBXH-TT) ngày 01/6/2020 trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L như sau:

Không đồng ý hủy bỏ Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2019;

Về yêu cầu buộc Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh thực hiện nhiệm vụ công vụ là chỉ đạo Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ của bà L thì thủ tục này thuộc thẩm quyền cấp huyện;

Ý kiến khác của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh: Sở đã tham mưu UBND tỉnh Tây Ninh trích từ nguồn quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” số tiền 4 300.000 đồng giải quyết cho trường hợp bà L, tuy nhiên mời bà L đến để tin : Số tiền trên thì bà L tư: chối, không nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T có đơn xin giải quyết vắng mặt và có gửi Công văn số 162/LĐTBXH ngày 28/7/2020 trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L như sau: Không đồng ý chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2020/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định như sau:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2020 người khởi kiện bà Trần Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện và đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt.

Trong phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện phát biểu: Cha bà L là liệt sĩ, chế độ xây cổ mộ và di chuyển hài cốt thì gia đình thân nhân bà L chưa được hưởng. Tại Khoản 8 Điều 15 Nghị định 28-CP ngày 29/4/1995 thì ngân sách Nhà nước phải đảm bảo chi phí di dời hài cốt liệt sĩ. Văn bản của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng ghi rõ mức chi. Thông tư 01/LĐTBXH-TT ngày 06/3/1992, Thông tư liên tích số 47/2009/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 11/3/2009, Thông tư liên tịch 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014, công văn 3204/LĐTBXH-TTr của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đồng thời Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng gửi văn bản đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh và Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Tây Ninh để giải quyết chế độ cho gia đình bà L. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, và Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh cho rằng phần mộ gia đình bà L di chuyển trước năm 2013 nên không hỗ trợ chi phí di dời là không đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà L buộc Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, và Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh chi trả chế độ di dời hài cốt liệt sĩ 4.000.000 đồng, và tiền bồi thường thiệt hại do bà L bị mất thu nhập thực tế.

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Theo quy định của văn bản hiện hành thì chế độ di dời hài cốt được hưởng 1 lần, các văn bản có quy định về việc truy lĩnh, truy thu nên việc người bị kiện cho rằng gia đình bà L đã di dời năm 1975 chưa có quy định được hưởng chế độ là không đúng.

Người khởi kiện trình bày: Pháp lệnh ưu đãi người có công đã quy định rõ chế độ hỗ trợ cho liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ được Nhà nước công nhận. Pháp lệnh đầu tiên quy định những người được công nhận thì được hưởng, pháp lệnh thứ 2 tiếp tục ghi nhận chế độ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Vụ án từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Căn cứ quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Thông tư 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Thông tư 101/2018/TT-BTC ngày 14/11/2018 thì không có quy định về việc bốc hài cốt liệt sĩ năm 1975, nội dung này liên quan đến quyết toán ngân sách Nhà nước, nên Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Tây Ninh không giải quyết chế độ theo quy định mà hỗ trợ cho bà L là đúng quy định pháp luật. bà L không đồng ý nhận hỗ trợ và yêu cầu chi trả đúng quy định, nhưng không có quy định nào về việc truy lĩnh. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị L làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Nội dung vụ án:

Cha bà Trần Thị L là liệt sĩ Trần Ngọc P1, sinh năm 1926, hy sinh ngày 13/6/1972 tại thị xã P2 (nay là thành phố P2, tỉnh Hà Nam). Sau khi cha bà Trần Thị L hy sinh thì được đơn vị đưa thi hài về quê an táng tại nghĩa trang nhân dân thôn V, xã T1, huyện B, tỉnh Hà Nam. Đến năm 1975, gia đình bà L tự cất bốc hài cốt về nghĩa trang dòng họ tại thôn V, xã T1, huyện B, tỉnh Hà Nam, cùng trong thôn V. Năm 1988, gia đình bà L chuyển vào sinh sống tại Tây Ninh và chuyển hồ sơ liệt sĩ của cha bà L vào Tây Ninh để hưởng chế độ, chính sách liên quan. Ngày 20/10/2015, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Tây Ninh (nay là thành phố T) đã chi trả “chế độ hỗ trợ xây vỏ mộ liệt sĩ” cho cha bà L số tiền 2.500.000 đồng. bà L yêu cầu được hưởng chế độ: “Hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển bộ hài cố liệt sĩ” tại điểm b, c khoản 1, Điều 18 của Thông tư liên bộ số: 13/2014/TT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014, nay là điểm b, c khoản 1 Điều 13 Thông tư số: 101/2018/TT-BTC ngày 14/11/2018. Ngày 27/12/2019 Giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh có Quyết định 3334/QĐ-SLĐTBXH có nội dung không đồng ý yêu cầu của bà L. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu:

- Hủy bỏ Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh.

- Buộc Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh thực hiện nhiệm vụ công vụ: Chỉ đạo Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

- Bồi thường thiệt hại do quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong thời gian 09 tháng cho gia đình bà Trần Thị L là 60.000.000 đồng và chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ 4.000.000 đồng.

- Yêu cầu xem xét, làm rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước sai phạm trong thực thi nhiệm vụ.

Người bị kiện Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh cho rằng quyết định hành chính bị kiện được ban hành đúng quy định pháp luật, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện.

Xét kháng cáo của người khởi kiện:

Tại khoản 7 Điều 15 của Nghị định số 28-CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định: "Những mộ liệt sĩ có tên, quê quán đã quy tập và xây cất trong các nghĩa trang liệt sĩ thì tạm thời chưa di chuyển. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc bảo quản chu đáo."

Tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 16/2007/NĐ-CP ngày 26/01/2007 của Chính phủ quy định: "3. Thân nhân liệt sĩ được hỗ trợ kinh phí khi đi thăm viếng mộ liệt sĩ và hỗ trợ kinh phí khi di chuyển hài cốt liệt sĩ. Mức hỗ trợ theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính."

Tại Điều 65 của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định như sau:

"Điều 65. Di chuyển hài cốt liệt sĩ

1. Mộ liệt sĩ có đầy đủ thông tin an táng trong nghĩa trang liệt sĩ được di chuyển theo nguyện vọng của thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ.

2. Nhà nước hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn đối với thân nhân liệt sĩ hoặc người được thân nhân liệt sĩ ủy quyền hoặc người thờ cúng liệt sĩ (không quá ba người) khi di chuyển hài cốt liệt sĩ; hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

3. Không hỗ trợ kinh phí di chuyển hài cốt liệt sĩ đối với những trường hợp đã được di chuyển theo nguyện vọng của thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ."

Căn cứ vào các quy định trên thì từ năm 2007 Chính phủ mới có quy định về chế độ “hỗ trợ kinh phí di chuyển hài cốt liệt sĩ”. Gia đình bà L thực hiện việc cất bốc và di chuyển bộ hài cốt liệt sĩ vào năm 1975, thời gian này chưa có chế độ hỗ trợ việc cất bốc và di chuyển bộ hài cốt liệt sĩ. Theo quy định tại Điều 65 Nghị định 31/2013/NĐ-CP thì trường hợp của bà L được hưởng chế độ hỗ trợ xây dựng vỏ mộ liệt sĩ nhưng không được hỗ trợ kinh phí di chuyển hài cốt liệt sĩ. Do đó, văn bản số 2542/SLĐTBXH-NCC ngày 16/10/2019 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh trả lời đơn của công dân, cụ thể là “Trường hợp gia đình bà Trần Thị L không thuộc đối tượng để xem xét, thực hiện việc hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ” là đúng quy định của pháp luật. Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2013 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị L là đúng quy định của pháp luật nên tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc hủy Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH là có căn cứ.

Do bác yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị hủy Quyết định 3334/ QĐ-SLĐTBXH, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện khác của bà L về việc buộc cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ, và yêu cầu bồi thường thiệt hại là có căn cứ.

Đối với yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị xem xét trách nhiệm của người có thẩm quyền của cơ quan Nhà nước có sai phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ, thì yêu cầu này không thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định thêm: Quyết định 3334/QĐ-SLĐTBXH có nội dung giải quyết khiếu nại của bà L đối với văn bản 2542/SLĐTBXH-NCC, nên căn cứ Điều 193 Luật tố tụng hành chính thì văn bản số 2542/SLĐTBXH-NCC ngày 16/10/2019 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh là quyết định có liên quan đến quyết định hành chính bị kiện. Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết văn bản 2542/SLĐTBXH-NCC khi xem xét quyết định hành chính bị kiện là có thiếu sót. Tuy nhiên, như nhận định ở mục [3.1] thì văn bản 2542/SLĐTBXH-NCC và Quyết định 3334/QĐ-SLĐTBXH là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Do đó, thiếu sót này của Tòa án cấp sơ thẩm không ảnh hưởng, không làm thay đổi bản chất nội dung vụ việc. Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung nội dung này, xác định Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh là người bị kiện trong vụ án.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của bà L là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, bác yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bà Trần Thị L được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngảy 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính,

1. Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị L; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm 07/2020/HC-ST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Áp dụng khoản 3, 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 65 của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc:

- Hủy bỏ Quyết định số 3334/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh.

- Hủy bỏ Văn bản 2542/SLĐTBXH ngày 16/10/2019 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh.

- Buộc Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh thực hiện nhiệm vụ công vụ: Chỉ đạo Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T chi hỗ trợ kinh phí cất bốc và di chuyển hài cốt liệt sĩ.

- Bồi thường thiệt hại do quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong thời gian 09 tháng cho gia đình bà Trần Thị L là 60.000.000 đồng và chi hỗ trợ kinh phí cất bộc và di chuyện hài cốt liệt sĩ 4.000.000 đồng.

2. Bà Trần Thị L được miễn án phí hành chính sơ thẩm, án phí hành chính phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ